Thứ Tư, 18 tháng 9, 2013



Bí đại tiện kéo dài còn được gọi là táo bón. Đây là triệu chứng rất thường gặp ở trẻ em. Bác sĩ chia triệu chứng này ra hai loại khác nhau: táo bón cơ năng và táo bón bệnh lý.

Theo Trưởng khoa Ngoại Bệnh viện Nhi đồng 1 Đào Trung Hiếu, nếu trẻ thỉnh thoảng mới khó đi ngoài và tự khỏi trong vài ngày thì đó là táo bón cơ năng, xuất hiện do sữa, thức ăn hay một lý do tạm thời nào đó. Còn nếu trẻ có triệu chứng táo kéo dài 3 tháng trở lên, mỗi lần đi ngoài trẻ rất đau đớn thì đó là dấu hiệu của táo bón bệnh lý, cần phải được điều trị.




Đại tiện (hay đi ngoài) là một phản xạ bình thường của đường tiêu hóa giúp cơ thể loại bỏ chất cặn bã ra khỏi cơ thể. Để hoạt động này bình thường, cần có sự tham gia của nhiều yếu tố như phản xạ thần kinh, nhu động ruột và tính chất phân. Nếu một trong các yếu tố này trục trặc, trẻ sẽ bị táo bón kinh niên. Nguyên nhân thường gặp nhất là bệnh phình đại tràng bẩm sinh.

Phình đại tràng xuất hiện do nhu động ruột ở đại tràng kém, phân ứ động lâu ngày trong lòng ruột làm đại tràng giãn rất to. Sau đó, khối phân này khô cứng và bịt chặt ngay trên lỗ hậu môn làm trẻ không thể nào đại tiện được. Tình trạng này sẽ không còn nếu đoạn ruột giãn to bệnh lý bị cắt bỏ để tái lập lại lưu thông ruột bình thường, bác sĩ Hiếu giải thích.

Cũng theo bác sĩ Hiếu, trước đây, quá trình điều trị phình đại tràng rất phức tạp. Bệnh nhi phải trải qua ít nhất ba lần phẫu thuật mở ổ bụng để hoàn thành quá trình điều trị này. Và trẻ phải trên 10 kg mới được chọn để tiến hành điều trị. Nhưng hiện nay, bác sĩ đã áp dụng kỹ thuật phẫu thuật cắt bỏ đoạn ruột giãn to bệnh lý qua đường hậu môn. 

Với phương pháp này, bệnh nhi không bị phẫu thuật mở ổ bụng, trẻ chỉ chịu phẫu thuật một lần. Do đó, tuổi phẫu thuật của trẻ được hạ thấp tối đa, chưa đầy tháng cũng thực hiện được. Trong gần 800 ca mổ kiểu này cắt tại Bệnh viện Nhi đồng 1, bệnh nhi nhỏ nhất mới 15 ngày tuổi. 

Tuy nhiên, với biện pháp mới, bác sĩ không thể cắt được những đoạn ruột bệnh lý quá dài (lúc đó cần kết hợp với đường mổ ở bụng, nhưng cũng chỉ mổ một lần duy nhất).

Bác sĩ cảnh báo rằng, mắc phải bệnh phình đại tràng bẩm sinh, trẻ có thể bị sa trực tràng khi cố rặn để đi ngoài, hoặc bị rách hậu môn, viêm nhiễm từ vết rách. Trẻ dễ có tâm lý sợ ăn uống vì sợ phải đi vệ sinh và đây là một nguyên nhân gây suy dinh dưỡng...Do đó, khi trẻ có các triệu chứng như bị đau bụng dưới, phân cứng như sỏi, có máu khi đi ngoài..., nên đưa đến bệnh viện để được chẩn đoán và điều trị đúng phương pháp. Tuyệt đối không nên tự ý cho trẻ uống thuốc nhuận tràng vì sẽ làm rối loạn hệ tiêu hóa.

Thứ Ba, 17 tháng 9, 2013


Bác sĩ Vũ Quý Hợp - Trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp (Bệnh viện Nhi TƯ) cho biết, tại Khoa Tiêu hóa lúc cao điểm luôn có 40-50 bệnh nhi đến điều trị tiêu chảy.


Tháng 12-2006 và tháng 1-2007 tới đây là thời điểm được các bác sĩ cảnh báo có nguy cơ cao bùng phát dịch tiêu chảy do virus. Bệnh nhân bị tiêu chảy do Rotavirus thường từ 5 tuổi trở xuống. Tại phòng điều trị bệnh nhân nội trú, nhiều nhất vẫn là trẻ bắt đầu thời kỳ ăn dặm (4-6 tháng) đến 2 tuổi. 


Cháu Duy Trường vừa tròn 1 tuổi (huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc) bị tiêu chảy đã 9 ngày nhưng vẫn chưa có dấu hiệu đỡ bệnh. Mất nước nhiều khiến cơ thể bé gầy gò, da xanh nhợt, phải truyền dịch liên tục. Trong 6 ngày điều trị tại Bệnh viện Nhi TƯ, bé đã được các bác sĩ truyền cho 8 chai dịch vì cháu không thể ăn uống được, lại tiêu chảy nhiều khiến cơ thể mất nước. Những ngày đầu cháu bị tiêu chảy tới gần 20 lần, có khi chỉ 1 đêm đã đi ngoài 10 lần.

Hôm 1-12, các bác sĩ lại phát hiện bệnh nhi này bị ho do viêm phổi. Bác sĩ Hợp cho biết, có một số trường hợp bệnh nhân cùng lúc bị virus tấn công vào hệ tiêu hóa và phổi nên việc điều trị sẽ kéo dài và bệnh tình nặng hơn.

Bác sĩ Hồ Thị Hiền - Phó trưởng khoa Tiêu hóa cho biết tiêu chảy do Rotavirus thường xuất hiện vào thời điểm giao mùa giữa mùa thu và đông, mùa đông và mùa xuân. Bệnh nhân thường nhập viện trong tình trạng sốt, nôn nhiều, quấy khóc, mệt mỏi, tiêu chảy toàn phân nước lẫn dịch nhầy.

Cho đến nay, khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới và UNICEF đối với điều trị tiêu chảy ở trẻ em là sử dụng dung dịch bù nước và điện giải (Oresol). Đồng thời, tiếp tục cho trẻ bú mẹ, ăn bổ sung như bình thường, không nên sử dụng kháng sinh và thuốc cầm tiêu chảy (trừ trường hợp bị lỵ) vì như vậy sẽ làm rối loạn vi khuẩn đường tiêu hóa khiến bệnh nặng thêm.

Trên thị trường hiện nay có nhiều loại Oresol với hương vị hoa quả rất dễ uống dành cho trẻ em, các phụ huynh có thể cho bé uống theo chỉ dẫn của bác sĩ trong trường hợp trẻ mới bị tiêu chảy và chưa mất nước nhiều.

Thời tiết khô, lạnh là điều kiện thích hợp để bệnh tiêu chảy do Rotavirus phát triển.

Khi trẻ bị tiêu chảy cấp, không phải do vi khuẩn lỵ thì chỉ nên dùng ORS hoặc các dung dịch bù nước điện giải được chế biến từ thức ăn như nước cháo muối (không mặn quá), nước gạo rang, súp cà rốt, nước hồng xiêm xay... 

Bác sĩ Hiền cho biết thêm, có thể dùng thêm một số men tiêu hóa vi sinh như: lacteolfor, lactominplus, antibio, biosubtil: 1-2 gói/ngày, cốm biobaby: 4-6 thìa/ngày chia 3-4 lần. 

Tuyệt đối không bù nước cho trẻ bằng cách cho uống nước có ga, nước hoa quả pha đường trong khi trẻ bị tiêu chảy vì sẽ làm bệnh tình nặng thêm.

Khi thấy dấu hiệu trẻ mất nước nhiều như mệt mỏi, sốt cao, li bì cần đưa tới cơ sở y tế để được theo dõi và điều trị kịp thời.

Các bà mẹ cũng không nên kiêng khem quá kỹ cho bé trong lúc bị bệnh sẽ khiến trẻ bị thiếu chất dinh dưỡng, giảm sức khỏe và lâu hồi phục. Theo bác sĩ Hiền, khi trẻ bị tiêu chảy vẫn cho bú mẹ bình thường (với trẻ còn bú mẹ) và phải cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho bé bằng cách chia thành nhiều bữa ăn nhỏ trong 1 ngày.

Bác sĩ Hợp cảnh báo, do Rotavirus tồn tại trong không khí và dễ phát triển khi điều kiện vệ sinh không đảm bảo nên rất dễ lây chéo từ trẻ này sang trẻ khác dẫn tới dịch tiêu chảy.

Vì vậy, người lớn nên giữ vệ sinh cho trẻ và bản thân mình trong khi chăm sóc trẻ. Trường hợp bệnh nhi Duy Trường nói trên là ví dụ của việc không đảm bảo vệ sinh. Sau khi bị tiêu chảy 4 ngày, cháu bé đã khỏi nhưng chỉ sau một ngày được xuất viện đã phải nhập viện trở lại do người mẹ không giữ vệ sinh trong lúc chăm sóc con nên bé bị tái phát tiêu chảy.

Bác sĩ Hiền cho biết, có một số gia đình nhầm lẫn việc con bị tiêu chảy do virus với việc trẻ đi ngoài phân lỏng, sốt, nôn do mọc răng nên khi nhập viện đã quá muộn, cháu bé mất nước nhiều nên cơ thể rất yếu.

Điều quan trọng nhất trong phòng bệnh tiêu chảy cho trẻ trong mùa lạnh là đảm bảo vệ sinh và dinh dưỡng trong các bữa ăn để trẻ đủ sức khỏe chống lại bệnh và giúp cơ thể nhanh hồi phục. 


Bé yêu bị suy dinh dưỡng, trướng bụng, táo bón, ậm ạch khó chịu, sốt... Bạn hãy cẩn thận! 

 Nhiều phụ huynh thấy con mình không tự đi tiêu được chỉ nghĩ bé bị táo bón đơn thuần. 
Họ thường cho con ăn rau lang, uống thuốc nhuận tràng hoặc đến các cơ sở y tế mua dụng cụ tự thụt tháo vài lần cho trẻ. Việc này rất nguy hiểm nếu bé bị mắc chứng bệnh phình đại tràng bẩm sinh. 


Căn bệnh dễ phát hiện

Tình trạng phình đại tràng do vô hạch bẩm sinh (Hirschsprung) là bệnh về đường tiêu hoá bẩm sinh, nguy hiểm và khá phổ biến ở trẻ. Bệnh do trực tràng hoặc cả đại tràng của bé xuất hiện một đoạn không có hạch thần kinh. Điều này khiến nhu động ruột hoạt động không bình thường.


Nó như thanh barie chắn đường làm bé ăn không tiêu. Các chất thải ứ đọng lại, gây trướng bụng và tắc ruột, có thể dẫn đến tử vong.

Theo phó giáo sư Trần Ngọc Bích, trưởng khoa phẫu thuật Nhi, bệnh viện Hữu Nghị Việt - Đức Hà nội, tuỳ độ dài đoạn ruột vô hạch, mức độ nặng nhẹ của bệnh sẽ khác nhau. Dựa và triệu chứng lâm sàng, bố mẹ trẻ có thể phát hiện dấu hiệu của căn bệnh này.

Đối với trẻ sơ sinh 24 giờ sau khi chào đời, thường đi tiêu phân xu. Những ngày sau trẻ có thể đại tiện 4 - 8 lần trong ngày.

Đại tràng của bé sẽ có vấn đề nếu đoạn vô hạch dài, sau 24 giờ con bạn sẽ không đi tiêu phân xu. Bé sẽ khó chịu, bụng trướng, sẽ bị nôn (vì đầy bụng), rất dễ dẫn đến viêm phổi và sốt...

Nếu không phát hiện sớm sẽ dẫn đến tình trạng bé bị viêm ruột, thủng ruột, nặng có thể dẫn đến tử vong.

Khi đoạn vô hạch ngắn, biểu hiện của bệnh thường là táo bón kéo dài. Bụng trẻ trướng to dần vì có thể bé vẫn cố gắng đại tiện được nhưng không hết, chất thải tích tụ trong ruột. Trẻ ăn uống kém, gầy yếu.

Sau thời gian dài, ruột giãn to dần, có thể gây viêm, tắc hoặc thủng ruột. Do vậy, bố mẹ thường phát hiện bệnh khi bé đã ngoài độ tuổi sơ sinh. Việc chữa trị ở giai đoạn này sẽ khó khăn hơn.

Cách xử trí và chữa trị cho trẻ

Hiện nay, phương pháp duy nhất giúp bé khỏi bệnh là cắt bỏ đoạn trực - đại tràng vô hạch, nối đầu đại tràng lành với ống hậu môn.

Sau khi khám lâm sàng, bác sĩ sẽ cho chụp X-quang để phát hiện đoạn hẹp, mức độ nặng nhẹ. Sau đó họ tiến hành sinh thiết trực tràng để xác định vô hạch thần kinh.

Tiếp đến là thông thụt, tháo phân qua đường hậu môn. Trường hợp nặng, đoạn ruột vô hạch dài, không thụt tháo được phải phẫu thuật cấp cứu.

Phó giáo sư Trần Ngọc Bích cho biết thêm: "Trẻ từ 3 tháng tuổi trở lên có thể phẫu thuật cắt bỏ đoạn vô hạch nối đại tràng với ống hậu môn. Trong thời gian chuẩn bị, bố mẹ sẽ được cấp dụng cụ và hướng dẫn cách chăm sóc, thụt tháo cho bé. Tuyệt đối không tự ý xử trí tại nhà, sẽ rất nguy hiểm đến tính mạng của trẻ" .

Nếu phát hiện bệnh sớm và chăm sóc tốt, chỉ cần phẫu thuật một lần, trẻ sẽ khỏi bệnh. Thời gian thực hiện kéo dài 2 giờ, chi phí khoảng 2 triệu đồng (miễn phí cho bệnh nhân dưới 6 tuổi khi điều trị đúng tuyến).

 Tiêu chảy là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ em, nhất là trẻ em dưới 5 tuổi. Tiêu chảy cấp thể nặng  hiện nay tiếp tục là một gánh nặng cho trẻ, mỗi gia đình và toàn xã hội. Đối với trẻ, bệnh có thể gây tử vong nếu không bù nước kịp thời, sẽ tạo nguy cơ suy dinh dưỡng nếu không được chăm sóc đúng.


Siêu vi Rotavirus, nguyên nhân gây bệnh

Trên thế giới 95% trẻ em bất kể chủng tộc và tình trạng kinh tế đều bị nhiễm rotavirus một lần trong giai đoạn trước 3-5 tuổi. Điều quan trọng là nhiễm Rotavirus không thể dự phòng được bằng các biện pháp vệ sinh, chuẩn mực đơn lẻ nhằm giảm sự lan truyền và tỷ suất nhiễm rota thể hiện qua số mới mắc nhiễm siêu vi  rota đều tương tự nhau ở các nước phát triển và đang phát triển.

Rotavirus lây phổ biến qua đường tiêu hóa, qua lan truyền siêu vi từ phân người bệnh lên các đồ vật trong môi trường như, đồ dùng, đồ chơi bàn tay... Siêu vi sống lâu trong môi trường nên có thể lây lan mạnh từ người sang người. Nhiễm siêu vi rota sẽ gây viêm dạ dày ruột cấp với biểu hiện nôn ói, tiêu chảy nhiều lần trong ngày, sốt, đau bụng với hậu quả là mất nước cơ thể nhanh và khó bù dịch đủ qua đường uống. So với tiêu chảy thông thường, tiêu chảy cấp do nhiễm Rotavirus gây mất nước nghiêm trọng hơn nên trẻ dễ mất nước nặng và đe dọa tử vong, thời gian nằm viện phải kéo dài, và nếu tái phát nhiều lần có thể gây suy dinh dưỡng cho trẻ.

Điều trị và phòng ngừa Rotavisus

Tại các quốc gia khí hậu nhiệt đới như Malaxia, Thái Lan, Việt Nam bệnh không có tính chất theo tháng rõ rệt. Trước 5 tuổi hầu như trẻ đều bị ít nhất một lần tiêu chảy do nhiễm Rota. Cứ 293 trẻ nhiễm siêu vi Rota thì có 1 trẻ tử vong. Đa số tử vong do nhiễm Rotavirus xảy ra ở các nước đang phát triển. Nhiễm khuẩn do siêu vi Rota là nguyên nhân hàng đầu gây tiêu chảy nặng và ói mửa ở trẻ 6-24 tháng trên toàn thế giới, trẻ càng nhỏ thì nguy cơ càng lớn. Tại Việt Nam tỷ lệ nhiễm siêu vi Rota theo các nghiên cứu gần đây chiếm khoảng 56% các ca tiêu chảy cấp nhập viện và là nguyên nhân của khoảng 6,4% ca tiêu chảy  cấp trong cộng đồng lưu vực sông Mê Kông.

Không có phương pháp điều trị cụ thể cho Rotavirus. Hiện nay chỉ có những phương pháp làm dịu các triệu chứng gây ra bởi Rotavirus như bù dịch bằng đường uống hoặc truyền tĩnh mạch và hạ sốt. Về phòng ngừa, hiện ở một số nước trên thế giới đã có thể sử dụng vaccine để bảo vệ cho trẻ và cộng đồng khỏi bị nhiễm Rotavisrus. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã xác định việc phát triển vaccine ngừa Rotavirus là ưu tiên hàng đầu cho y tế cộng đồng. Vaccine dạng uống là loại vaccine mới nhất phòng chống viêm đường tiêu hóa do Rotavirus. Loại vaccine mới này đã được chứng minh hiệu quả bảo vệ lên đến 90% cho trẻ em khỏi bệnh viêm đường tiêu hóa do Rotavirus.

Người ta thường nói đến bệnh loét dạ dày ở người lớn, tuy nhiên trẻ em cũng bị bệnh này. Loét dạ dày - tá tràng ở trẻ em có triệu chứng không giống như người lớn, vì vậy dễ bị chẩn đoán và điều trị nhầm. Có đến 50% trường hợp đến bệnh viện vì biến chứng của loét.

Những triệu chứng lâm sàng của loét dạ dày - tá tràng ở trẻ em như thế nào?

Đau bụng vùng trên rốn: Đau thất thường, không theo chu kỳ mùa và ngày (mùa tức là đau nhiều về mùa rét, ngày tức là lúc đói đau nhiều hơn lúc no). Đau ban đêm, sau khi ngủ một lúc, chừng 12 giờ đêm đến 1 giờ sáng, cơn đau xuất hiện làm mất ngủ, đau trước khi ăn hoặc sau khi ăn. Trẻ xanh xao, thiếu máu, giảm cân. Ở trẻ em không rõ ràng như người lớn, trẻ em ít khi đau âm ỉ, chịu đựng được, mà thường đau dữ dội, lăn lộn như giun lên ống mật. Nhiều bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị như giun chui ống mật hoặc đau bụng do giun.
Ợ hơi, ợ chua gặp ở người lớn, tuy không đặc hiệu cho bệnh nhân loét nhưng ít gặp ở trẻ em và cũng khó khai thác dấu hiệu này. Vì cho là không hoặc ít gặp, các dấu hiệu lâm sàng lại mơ hồ cho nên trẻ được đưa đến bệnh viện muộn, khi có biến chứng như chảy máu, hẹp và thủng dạ dày.
Làm thế nào để biết chắc chắn trẻ bị loét dạ dày?
Trẻ cần được khám chuyên khoa để điều trị sớm, đúng quy cách và kiên trì.
Bác sĩ dựa trên phim chụp dạ dày và nội soi dạ dày – tá tràng. Tuy chụp phim có giá trị rất lớn nhưng cũng khó đọc, không điển hình như ở người lớn, chỉ thấy tá tràng rúm ró không có dạng củ hành như bình thường. 1/3 trường hợp có hình ảnh loét trên phim Xquang, khi soi lại không có tổn thương. Do vậy, sau khi chụp phim việc soi dạ dày là cần thiết và bắt buộc để không còn nghi ngờ trong chẩn đoán.
Những điều lưu ý trong điều trị
Chế độ ăn uống ở trẻ bị bệnh dạ dày rất quan trọng, phải chia làm nhiều bữa (4-5 bữa 1 ngày), chú ý chế độ ăn uống giàu dinh dưỡng. Tuy vậy, chiều cao và cân nặng của trẻ bị bệnh dạ dày - tá tràng cũng rất ít khi đạt như một trẻ bình thường.
 Nếu phát hiện sớm, điều trị ngay, 80% số loét khỏi hẳn. Nhưng nếu muộn tỷ lệ này giảm còn khoảng 50%.
Khi cần mổ, phải cắt 2/3 thể tích dạ dày. Sau mổ, chỉ còn 1/3 dạ dày, tức là dạ dày sẽ rất nhỏ. Sau đó sẽ giãn dần ra và cuối cùng cũng gần bằng dạ dày khi chưa cắt.
Sau mổ một số ít bị tái phát và biến chứng. Nếu đau bụng tương tự hoặc đau hơn trước khi mổ, cần tới nơi đã điều trị cho trẻ để kiểm tra lại xem có loét ở nơi mới hay không.
Loét dạ dày – tá tràng là một bệnh lành tính. Nguyên nhân sinh bệnh còn chưa khẳng định nhưng điều kiện thuận lợi là bệnh có tính chất gia đình, trẻ bị chấn thương về tinh thần (bố mẹ đánh đập, ruồng bỏ, lo lắng trong học hành). Khi loét lượng acid trong dạ dày tăng cao. Gần đây người ta còn tìm thấy loét do vi trùng. Nó đã được khẳng định ở người lớn và trẻ em. Điều trị bằng thuốc hay mổ cũng nhằm vào hạ độ acid, chống vi trùng để hết loét và chữa bệnh.
Triệu chứng không điển hình, hình ảnh phim khó khẳng định, cả gia đình và thầy thuốc ít nhạy bén nghĩ đến bệnh, trẻ điều trị muộn là điều tất yếu. Một trẻ, nhất là trẻ trai, đau kéo dài trên 2 tháng vùng trên rốn, cần đưa trẻ tới khám để chụp, soi dạ dày, mới hy vọng điều trị tốt được.
Loét dạ dày ở trẻ em có các biến chứng gì?
50% số trẻ bị loét đến bệnh viện vì các biến chứng:
Chảy máu: Khi loét sâu vào lớp cơ của ruột hoặc hết cả lớp thành ruột, thủng vào các mạch máu, gây ra chảy máu. Nôn ra máu cục lẫn thức ăn, hoặc chảy vào trong lòng ruột: đại tiện ra phân đen.
Hẹp môn vị: Tức là hẹp phần cuối của dạ dày. Loét xơ chai làm rúm đoạn đầu của ruột non (tá tràng) làm hẹp gần hoàn toàn hoặc hoàn toàn trong ruột.
Trẻ ăn vào, thức ăn ứ đọng lại ở dạ dày nhuyễn ra, lên men... rồi nôn ra thức ăn có mùi chua, lợn cợn, nổi bọt. Trước khi nôn, trẻ đau bụng nổi cuộn ở trên rốn, sau khi nôn xong trẻ dễ chịu hẳn, có khi khó nôn, phải kích thích miệng, họng để nôn ra. Tiếp đó là tình trạng da nhăn nheo, mắt trũng, đại, tiểu tiện ít do mất nước và coi như không được ăn uống gì.
Thủng dạ dày: Nếu ổ loét làm thủng thành ruột sẽ gây tràn hơi, dịch có trong dạ dày vào ổ bụng. Trẻ đau đột ngột, vật vã. Đau không dám thở. Bụng cứng như sờ vào tấm gỗ, hoặc miếng các-tông.
Dù là loại biến chứng nào cũng phải đưa tới bệnh viện ngay để cứu chữa kịp thời. Nếu muộn sẽ đe dọa tính mạng của trẻ. Hẹp môn vị và thủng dạ dày bắt buộc phải điều trị bằng phẫu thuật, chảy máu là ranh giới giữa điều trị nội khoa và ngoại khoa.

Tôi nghe nói bệnh lồng ruột sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng trẻ nhỏ nếu không được phát hiện sớm. Triệu trứng và cách xử lý căn bệnh này thế nào? (Lê Thị Thu- thành phố Thanh Hoá).

Trả lời của bác sĩ Nguyễn Văn Lộc, phó giám đốc Viện Nhi TƯ:

 Lồng ruột là tai biến thường xảy ra ở trẻ còn bú mẹ trong độ tuổi 4 - 9 tháng.
 Do nhiều nguyên nhân, khi bị lồng ruột, các mạch máu nuôi ruột bị tắc nghẹt, không nuôi được đoạn ruột lồng dẫn đến hoại tử.
 Cần lưu ý khi thấy trẻ đột ngột có những biểu hiện như: bỏ bú, da tím tái, không chú ý đến xung quanh mà khóc thét từng cơn, có thể ưỡn người hoặc co 2 chân về phía trước do đau bụng dữ dội. Những cơn đau bụng thường diễn ra từng cơn kéo dài khoảng 15-20 phút.
 Bên cạnh triệu trứng đau bụng trẻ thường bị nôn ra dịch nhầy màu xanh xanh hoặc vàng. Sau khi nôn trẻ rất mệt, nằm li bì hoặc kích thích vật vã, thở khò khè…Trẻ cũng có thể đại tiện ra máu và thường lẫn với chất nhầy, mầu đỏ hoặc nâu, có khi cả máu đen.
 Khi thấy trẻ có những biểu hiện này cần đưa ngay các cháu đến bệnh viện để chụp X quang và siêu âm để chẩn đoán chính xác nhằm lên phương điều trị phù hợp.
 Cần lưu ý, lồng ruột là chứng bệnh rất nguy hiểm. Đã có một số  bệnh nhi được đưa đến bệnh viện trong tình trạng nguy cấp đến tính mạng do người trong gia đình chủ quan lầm tưởng trẻ bị đau bụng do tiêu hoá hay bị đi ngoài thông thường.

Thứ Hai, 16 tháng 9, 2013

Dùng men đường ruột dòng vi khuẩn Lactobacillus reuteri có thể cải thiện chứng đau bụng cho trẻ sơ sinh, nghiên cứu mới đây thừa nhận.

Men đường ruột là một loại men vi sinh giúp cân bằng vi khuẩn đường ruột đã bị rối loạn, có tác dụng hồi phục lại các sinh vật đã bị chết vì một lý do nào đó (chủ yếu là do thuốc kháng sinh). Chứng đau bụng ở trẻ sơ sinh hiện chưa thể xác định chính xác nguyên nhân nhưng có thể phát hiện dựa trên biểu hiện khóc quá nhiều mặc dù trẻ vẫn ăn tốt, sức khỏe bình thường.
 Thực nghiệm trên gần 90 trẻ sơ sinh có cùng tuổi, cân nặng, giới tính và thời gian khóc được chia thành 2 nhóm: 41 trẻ dùng men đường ruột và 42 trẻ dùng thuốc chống đầy hơi, trướng bụng trong 28 ngày. Kết quả cho thấy:
 - Chỉ sau 7 ngày điều trị, chứng đau bụng giảm rõ rệt hơn hẳn ở nhóm dùng men đường ruột L reuteri so với nhóm thuốc chống đầy hơi, chướng bụng với tỉ lệ dứt cơ đau bụng lên tới 95% so với 7%.
 - Những trẻ uống men đường ruột sau 28 ngày điều trị khóc ít hơn trẻ điều trị bằng thuốc đầy hơi, chướng bụng là 51 – 145 phút.
 Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy nếu các bà mẹ hạn chế tối đa các thực phẩm có thể gây dị ứng thì triệu chứng đau bụng ở trẻ sơ sinh cũng sẽ giảm bớt.
 Mặc dù men đường ruột được đánh giá là an toàn hơn hẳn thuốc trị đầy hơi, chướng bụng nhưng cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa để có thể khẳng định rằng men đường ruột là loại thuốc điều trị chứng đau bụng ở trẻ sơ sinh hiệu quả nhất.

Do nhiều nguyên nhân, bệnh tiêu chảy ở trẻ em gia tăng từ sau Tết Nguyên đán đến nay.  Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, khi nào nên đưa trẻ nhập viện, phòng bệnh cho trẻ như thế nào...? Bác sĩ Phạm Thị Ngọc Tuyết  - Trưởng khoa Tiêu hóa - gan mật Bệnh viện Nhi đồng 2 (TP.HCM) cho biết:


- Có một số nguyên nhân khiến bệnh tiêu chảy cấp, rối loạn tiêu hóa ở trẻ em gia tăng: Thông thường, hằng năm loại bệnh này phát triển vào dịp cuối năm cũ và đầu năm mới (tháng 12, tháng 1, tháng 2). Dịp cuối năm, thời tiết lạnh, bệnh tiêu chảy xảy ra nhiều là do siêu vi; ngoài ra, dịp cuối năm có nhiều đám tiệc, tần suất ăn uống nhiều; riêng ở thời điểm sau Tết, thời tiết nắng nóng làm cho thức ăn mau ôi thiu, là điều kiện thuận lợi để vi trùng gây bệnh đường ruột phát triển. 


Đặc biệt, thời điểm sau Tết Nguyên đán, bệnh tiêu chảy cấp, rối loạn tiêu hóa gia tăng còn do ăn nhiều thức ăn dự trữ. Do đặc điểm người dân hay mua thức ăn trữ lạnh trong dịp Tết, sau khi nấu nướng, hâm tới hâm lui để dùng (đây là yếu tố rất hay gặp) khiến dễ mắc bệnh tiêu chảy! Ngoài ra, đây cũng là dịp người ta ăn hàng quán nhiều. 

* Đặc điểm của trẻ bị tiêu chảy, lúc nào nên đưa trẻ vào viện?

- Bác sĩ Phạm Thị Ngọc Tuyết: Những triệu chứng thường gặp ở trẻ mắc bệnh tiêu chảy gồm: sốt, đau bụng, ói, tiêu chảy. Nếu mắc bệnh nhẹ, không mất nước, không sốt cao, trẻ ăn uống bình thường, chưa phải nhập viện thì cần cho trẻ ăn uống đầy đủ, dùng những thức ăn dễ tiêu hóa, chia làm nhiều bữa ăn, và nhớ bù nước cho trẻ bằng dung dịch nước biển khô (có bán sẵn ở các nhà thuốc).

Nếu trẻ sốt cao, bỏ ăn, ăn vào ói ra, tiêu chảy nhiều... thì phải đưa trẻ vào viện ngay bởi biến chứng do tiêu chảy ở trẻ nhỏ rất nguy hiểm, trẻ mất nước nặng sẽ bị trụy tim mạch, sốc, có thể tử vong. Khi nhập viện, nếu bệnh nhẹ, bình quân điều trị khoảng 4 ngày. Nếu nặng, có nhiễm trùng kèm theo thì thời gian nằm viện lâu hơn. 

Để phòng ngừa, cần giữ vệ sinh trong ăn uống và vệ sinh cá nhân cho trẻ. Nên dùng những thức ăn tươi, nấu chín; hạn chế thức ăn hàng quán, lề đường không đảm bảo vệ sinh; thường xuyên vệ sinh tủ lạnh trữ thức ăn; cho trẻ rửa tay trước khi ăn và sau khi đi tiêu... 

Một số bài thuốc theo kinh nghiệm dân gian và bài thuốc cổ phương sau đây sẽ có công dụng trị chứng tiêu chảy ở trẻ.

 
 Hoài sơn
* Theo kinh nghiệm dân gian

+ Mã đề, lá mơ tam thể, búp ổi, tô mộc, củ sắn dây...

+ Nếu tiêu chảy do nguyên nhân ăn, bú thất thường, tỳ vị suy yếu thì dùng các vị như: mề gà (sao vàng), các vị thuốc: sơn tra, chỉ thực, thần khúc, sa nhơn (sao vàng), trần bì, hoàng đằng, hậu phác (sao gừng).

+ Nếu thể trạng suy nhược, thì dùng các vị: hạt sen, hoài sơn, bột thịt cóc, bố chính sâm, ý dĩ (sao vàng), và liên nhục.

Mỗi loại trên dùng từ 10gr - 20gr, chọn từ 2 - 3 vị để hợp lại thành một thang, đem sắc uống, sẽ có công dụng thanh nhiệt, ôn kiện tỳ thận...

 
 Bạch phục linh
* Bài thuốc cổ phương

Bài thuốc Bảo hòa hoàn: Thành phần gồm: sơn tra, thần khúc, liên kiều, la bặc tử (mỗi vị 100gr), trần bì, bán hạ (mỗi vị 60gr) và 160gr phục linh. Tất cả đem sắc để dùng, có công dụng trị các chứng: cơn đau bụng là đi tiêu ngay, nhưng sau khi tiêu rồi thì bụng hết đau, bụng hông đầy chướng...

Bài Dị công hoàn: Thành phần gồm các vị thuốc: 20gr phòng đảng sâm, bạch truật (sao với gạo),  20gr bạch phục linh, 6gr chích cam thảo, 6gr trần bì (sao với gừng), 4 lát gừng, 4 quả đại táo. Tất cả đem sắc uống từ từ, sẽ có công dụng tỳ hư tiết tả, dùng để trị các chứng: ăn xong đi tiêu liền phân sống, môi lưỡi nhạt, ăn kém...  

Điểm cần lưu ý là phải giữ vệ sinh trong ăn uống cho trẻ, nên ăn chín, uống sôi, dùng những thức ăn dễ tiêu hóa; đồng thời khi thấy trẻ có dấu hiệu tiêu chảy nặng cần đưa trẻ đi khám ngay, vì bệnh diễn biến rất nhanh...

 

Do nhiều nguyên nhân, bệnh tiêu chảy ở trẻ em gia tăng từ sau Tết Nguyên đán đến nay.  Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, khi nào nên đưa trẻ nhập viện, phòng bệnh cho trẻ như thế nào...? Bác sĩ Phạm Thị Ngọc Tuyết  - Trưởng khoa Tiêu hóa - gan mật Bệnh viện Nhi đồng 2 (TP.HCM) cho biết:


- Có một số nguyên nhân khiến bệnh tiêu chảy cấp, rối loạn tiêu hóa ở trẻ em gia tăng: Thông thường, hằng năm loại bệnh này phát triển vào dịp cuối năm cũ và đầu năm mới (tháng 12, tháng 1, tháng 2). Dịp cuối năm, thời tiết lạnh, bệnh tiêu chảy xảy ra nhiều là do siêu vi; ngoài ra, dịp cuối năm có nhiều đám tiệc, tần suất ăn uống nhiều; riêng ở thời điểm sau Tết, thời tiết nắng nóng làm cho thức ăn mau ôi thiu, là điều kiện thuận lợi để vi trùng gây bệnh đường ruột phát triển. 


Đặc biệt, thời điểm sau Tết Nguyên đán, bệnh tiêu chảy cấp, rối loạn tiêu hóa gia tăng còn do ăn nhiều thức ăn dự trữ. Do đặc điểm người dân hay mua thức ăn trữ lạnh trong dịp Tết, sau khi nấu nướng, hâm tới hâm lui để dùng (đây là yếu tố rất hay gặp) khiến dễ mắc bệnh tiêu chảy! Ngoài ra, đây cũng là dịp người ta ăn hàng quán nhiều. 

* Đặc điểm của trẻ bị tiêu chảy, lúc nào nên đưa trẻ vào viện?

- Bác sĩ Phạm Thị Ngọc Tuyết: Những triệu chứng thường gặp ở trẻ mắc bệnh tiêu chảy gồm: sốt, đau bụng, ói, tiêu chảy. Nếu mắc bệnh nhẹ, không mất nước, không sốt cao, trẻ ăn uống bình thường, chưa phải nhập viện thì cần cho trẻ ăn uống đầy đủ, dùng những thức ăn dễ tiêu hóa, chia làm nhiều bữa ăn, và nhớ bù nước cho trẻ bằng dung dịch nước biển khô (có bán sẵn ở các nhà thuốc).

Nếu trẻ sốt cao, bỏ ăn, ăn vào ói ra, tiêu chảy nhiều... thì phải đưa trẻ vào viện ngay bởi biến chứng do tiêu chảy ở trẻ nhỏ rất nguy hiểm, trẻ mất nước nặng sẽ bị trụy tim mạch, sốc, có thể tử vong. Khi nhập viện, nếu bệnh nhẹ, bình quân điều trị khoảng 4 ngày. Nếu nặng, có nhiễm trùng kèm theo thì thời gian nằm viện lâu hơn. 

Để phòng ngừa, cần giữ vệ sinh trong ăn uống và vệ sinh cá nhân cho trẻ. Nên dùng những thức ăn tươi, nấu chín; hạn chế thức ăn hàng quán, lề đường không đảm bảo vệ sinh; thường xuyên vệ sinh tủ lạnh trữ thức ăn; cho trẻ rửa tay trước khi ăn và sau khi đi tiêu... 

Một số bài thuốc theo kinh nghiệm dân gian và bài thuốc cổ phương sau đây sẽ có công dụng trị chứng tiêu chảy ở trẻ.

 
 Hoài sơn
* Theo kinh nghiệm dân gian

+ Mã đề, lá mơ tam thể, búp ổi, tô mộc, củ sắn dây...

+ Nếu tiêu chảy do nguyên nhân ăn, bú thất thường, tỳ vị suy yếu thì dùng các vị như: mề gà (sao vàng), các vị thuốc: sơn tra, chỉ thực, thần khúc, sa nhơn (sao vàng), trần bì, hoàng đằng, hậu phác (sao gừng).

+ Nếu thể trạng suy nhược, thì dùng các vị: hạt sen, hoài sơn, bột thịt cóc, bố chính sâm, ý dĩ (sao vàng), và liên nhục.

Mỗi loại trên dùng từ 10gr - 20gr, chọn từ 2 - 3 vị để hợp lại thành một thang, đem sắc uống, sẽ có công dụng thanh nhiệt, ôn kiện tỳ thận...

 
 Bạch phục linh
* Bài thuốc cổ phương

Bài thuốc Bảo hòa hoàn: Thành phần gồm: sơn tra, thần khúc, liên kiều, la bặc tử (mỗi vị 100gr), trần bì, bán hạ (mỗi vị 60gr) và 160gr phục linh. Tất cả đem sắc để dùng, có công dụng trị các chứng: cơn đau bụng là đi tiêu ngay, nhưng sau khi tiêu rồi thì bụng hết đau, bụng hông đầy chướng...

Bài Dị công hoàn: Thành phần gồm các vị thuốc: 20gr phòng đảng sâm, bạch truật (sao với gạo),  20gr bạch phục linh, 6gr chích cam thảo, 6gr trần bì (sao với gừng), 4 lát gừng, 4 quả đại táo. Tất cả đem sắc uống từ từ, sẽ có công dụng tỳ hư tiết tả, dùng để trị các chứng: ăn xong đi tiêu liền phân sống, môi lưỡi nhạt, ăn kém...  

Điểm cần lưu ý là phải giữ vệ sinh trong ăn uống cho trẻ, nên ăn chín, uống sôi, dùng những thức ăn dễ tiêu hóa; đồng thời khi thấy trẻ có dấu hiệu tiêu chảy nặng cần đưa trẻ đi khám ngay, vì bệnh diễn biến rất nhanh...

Chứng táo bón là một bệnh khá phổ biến ở trẻ nhỏ. Tuy nhiên, tình trạng này có thể được cải thiện nhanh chóng nếu cha mẹ biết cách điều chỉnh chế độ ăn và bổ sung một số vi chất, nhất là chất kẽm cho trẻ.



GS.TS Nguyễn Công Khanh, Chủ tịch Hội Nhi khoa Việt Nam cho biết như trên tại hội thảo về sự phát triển của hệ miễn dịch vừa được tổ chức tại Hà Nội.


Theo GS Khanh, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến chứng táo bón ở trẻ. Trong đó, nguyên nhân chủ yếu nhất là do sai lầm trong chế độ ăn uống. Những trẻ ăn chưa đủ số lượng hàng ngày, uống ít nước, ăn ít hoa quả tươi… đều có nguy cơ bị táo bón. Ngoài ra, phải kể đến một số yếu tố như yếu tố tinh thần, do giảm trương lực ruột, bị tổn thương thực thể ở đường tiêu hóa…

Cũng tại hội thảo này, GS Boosba Vivatvakin (Trưởng khoa Tiêu hóa Nhi, Bệnh viện Chulalongkorn Thái Lan) cho hay, nhiều cha mẹ rất lúng túng khi con bị táo bón, nhưng thực tế, chứng táo bón ở trẻ có thể được khắc phục rất đơn giản.

Thứ nhất, khi xác định trẻ bị táo bón, đầu tiên phải làm cho phân mềm, lỏng hơn bằng cách bổ sung nước, dịch cho trẻ. Nhất là trong những ngày nắng nóng, trẻ không chỉ bị mất nước qua đi tiểu mà còn mất nước do ra nhiều mồ hôi, do vậy bổ sung nhiều nước là rất quan trọng. Đồng thời, phải cho trẻ ăn đủ số lượng hàng ngày, bổ sung nhiều chất xơ theo tỷ lệ của độ tuổi. Cho trẻ ăn nhiều rau xanh và hoa quả. Khi đó, tình trạng táo bón của trẻ sẽ được khắc phục sau khi điều chỉnh chế độ ăn và bổ sung nước.

 Dấu hiệu của táo bón

Táo bón là tình trạng trẻ đi đại tiện phân quá ít, rắn và khô. Bé thường sợ đi cầu do bị đau rát, thậm chí chảy máu và thời gian đi cầu thường rất lâu. 

Đối với trẻ dưới một tuổi thường đi đại tiện từ 2 – 3 lần/ngày, hoặc chỉ một lần nhưng phân vẫn mềm, dẻo, khối lượng bình thường thì không coi là táo bón. Còn với trẻ lớn hơn, có khi đi 2 – 3 ngày/lần nhưng phân khô, rắn thì vẫn được gọi là táo bón. Còn bình thường, thậm chí có trẻ 3 ngày mới đi cầu một lần nhưng phân vẫn mềm, dẻo thì trẻ vẫn không bị coi là táo bón. 
Còn trong trường hợp trẻ bị táo bón kinh niên, táo bón nặng thường rất sợ đi cầu do bé đi thường bị đau rát, thậm chỉ chảy máu. Có bé nhìn thấy “bô” đã khóc thét lên. Vì vậy, bé càng sợ đi ngoài, càng nín nhịn lâu khiến phân càng bị lèn chặt khiến tình trạng táo bón càng thêm nặng nề. Lúc này, tốt nhất hãy cho bé đi khám bệnh, bác sĩ sẽ cho bé loại thuốc bôi trơn hậu môn, đút hậu môn giúp bé đi cầu dễ hơn, bé sẽ đỡ sợ đi cầu. Đồng thời với những bé này, cha mẹ cần động viên tinh thần để trẻ đi cầu thành thói quen, vào đúng giời quy định. Nên chọn thời gian thuận tiện, khi trẻ không vội vã, thường nên chọn sau bữa ăn vì lúc này nhu động ruột hoạt động tăng, giúp việc đẩy phân ra ngoài dễ dàng hơn.

Khi thấy bé có đường kính phân quá lớn (có thể do phân bị tích tụ trong ruột già lâu, hoặc do trương lực của ruột kém… ) thì cũng cần nghĩ ngay đến tình trạng táo bón dù có thể trẻ vẫn đi cầu được bình thường. Lúc này, nên đưa bé đi khám bác sĩ, trong trường hợp cần thiết, bác sĩ sẽ cho bé dùng thuốc tăng cường trương lực ruột, giúp việc đẩy phân ra được dễ dàng hơn.

Bà Boosba Vivatvakin cho biết thêm, có bé phân trơn láng, mềm, đi ngoài không khó nhưng 3 - 4 ngày mới đi một lần là hoàn toàn bình thường. Tuy nhiên, với những bé thời gian đi cầu thường lâu do rặn, khóc, đau đớn khi đi cầu, dù bé đi 3 lần/tuần cũng phải xem xét khả năng bé bị táo bón để có thể điều chỉnh thích hợp.

Rất nhiều trẻ bị táo bón khi không được bú sữa mẹ mà dùng sữa bò, sữa công thức. Lúc này, người mẹ cần lựa chọn loại sữa phù hợp với con, vì hệ miẽn dịch của trẻ sơ sinh rất non nớt. Nên chọn những loại sữa giàu chất sơ có nguồn gốc tự nhiên sẽ giúp bé tăng cường chức năng miễn dịch trong ruột và hỗ trợ cho sức khỏe đường ruột. 

Trong các bệnh về hô hấp ở trẻ em thì khó thở thanh quản là một trong những bệnh được đặt trong tình trạng cấp cứu.


Hiện nay tình hình trẻ nhập viện vì các bệnh ở đường hô hấp đang tăng lên, nhiều trường hợp đến bệnh viện trong tình trạng bệnh rất nặng gây khó khăn cho công tác điều trị. 

Nhận biết bệnh và phòng bệnh tốt cho trẻ là điều cần thiết đối với các bậc cha mẹ. Bài viết sau xin đề cập đến khó thở thanh quản ở trẻ em.


Nhận biết dấu hiệu khó thở

Hầu hết trẻ bị khó thở thanh quản đều có những dấu hiệu như hít thở khó, thở chậm, nghe có tiếng rít thanh quản khi thở, xuất hiện các cơn co kéo hô hấp nhất là tình trạng lõm ức và rút lõm lồng ngực. Bên cạnh đó, trẻ còn có những triệu chứng khác như khàn tiếng hay mất tiếng khi nói, ho, khóc. Đầu trẻ thường bị gật gù khi thở và hay bị ngửa ra sau trong thì hít vào. Nếu quan sát thì sẽ thấy sụn thanh quản nhô lên khi hít vào, mặt trẻ bị nhăn lại, hai cánh mũi nở rộng.

Để chẩn đoán mức độ khó thở thanh quản của trẻ, người ta chia ra 3 mức độ nặng, nhẹ khác nhau, đây là yêu cầu rất cần thiết để có thể đưa ra những xử trí đúng đắn nhất.

Mức độ 1: Trẻ xuất hiện khàn và rè tiếng khi khóc, khi nói, nhưng tiếng ho có thể vẫn trong hoặc hơi rè. Biểu hiện khó thở chưa điển hình, tiếng rít thanh quản nhẹ hoặc chưa rõ, cơn co kéo hô hấp ít. Tình trạng toàn thân chưa ảnh hưởng, trẻ vẫn còn chơi, chưa quấy khóc nhiều.

Mức độ 2: Trẻ bị mất tiếng, nói không rõ từ, tiếng ho trở nên ông ổng. Lúc này triệu chứng khó thở thanh quản rất điển hình, tiếng rít thanh quản rõ, cơn co kéo hô hấp mạnh. Trẻ xuất hiện trạng thái kích thích, vật vã, hốt hoảng, lo sợ.

Mức độ 3: Trẻ bị mất tiếng hoàn toàn, khóc hoặc nói không thành tiếng, nghe phều phào. Ngay cả khi ho cũng không thành tiếng hoặc muốn ho mà không ho được. Biểu hiện khó thở trở nên dữ dội, có triệu chứng thiếu ôxy nặng nề, lúc này trẻ có thể bị tím tái, rối loạn nhịp thở. Toàn thân trẻ bị ảnh hưởng thần kinh (hôn mê, lờ đờ hay vật vã...), tim mạch, da tái vã mồ hôi...

Xác định nguyên nhân khó thở

Trong trường hợp trẻ bị khó thở thanh quản cấp tính thường là do những nguyên nhân như: dị vật đường thở, đây là do quá trình ăn, ngậm thức ăn hoặc đồ vật nào đó bị rơi vào thanh quản. Trường hợp này rất hay gặp, nhất là khi trẻ vừa ăn vừa chơi không tập trung. Viêm thanh quản cấp là một nguyên nhân quan trọng gây ra tình trạng này, bệnh xuất hiện có thể do vi khuẩn (H.influenzae, streptocoque, staphylocoque) hoặc do virut (hay gặp nhất là virut cúm, sau đó là virut nhóm myxovirut).

Những trẻ bị còi xương và nhiễm khuẩn nặng ở họng, đau không nuốt, nói được cũng hay mắc phải tình trạng khó thở thanh quản cấp tính. Bên cạnh đó bệnh bạch hầu thanh quản và viêm thanh quản do sởi cũng là những yếu tố quan trọng khiến trẻ rơi vào tình trạng cấp cứu này.

Các trường hợp khó thở mạn tính có thể do mềm sụn thanh quản, dị dạng sụn thanh quản (trong những trường hợp này trẻ sẽ có tiếng thở rít thanh quản bẩm sinh) hoặc do hẹp thanh quản mạn tính (do hậu quả của chấn thương hoặc hẹp thanh quản do u máu, dị dạng bẩm sinh...). Khó thở mạn tính còn do papillone thanh quản, đó là loại u nhú, lành tính ở thanh quản, u phát triển nhanh, tái phát gây khó thở thanh quản từ từ. Để xác định chính xác cần phải soi thanh quản.

Xử trí khi bị khó thở

Tất cả những trường hợp khó thở thanh quản đều cần được theo dõi chặt chẽ và xử trí bệnh kịp thời, đặc biệt là tình trạng cấp tính. Nếu trẻ có nguyên nhân bị dị vật đường thở phải nhanh chóng lấy dị vật khỏi thanh quản. Nhiều trường hợp nặng phải sử dụng mở nội khí quản, thở ôxy. Tùy theo từng nguyên nhân gây bệnh và mức độ bệnh, các bác sĩ sẽ chỉ định sử dụng các loại thuốc khác nhau.

Khó thở thanh quản là bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra trong đó có nhiều nguyên nhân có thể dự phòng được. Các bậc cha mẹ không nên để trẻ ngậm đồ vật dễ gây hóc, mặt khác còn gây nhiễm khuẩn, giun sán. Nên vệ sinh sạch sẽ cho bản thân trẻ và người chăm sóc trẻ, nhất là vệ sinh trước khi cho trẻ ăn và sau khi đi vệ sinh.

Cần tiêm phòng đầy đủ cho trẻ theo lịch tiêm chủng. Mang lại cho trẻ một không gian sống thoáng, sạch. Nếu thấy có những dấu hiệu bất thường ở đường hô hấp nên cho trẻ đi khám ở các chuyên khoa hô hấp để phát hiện bệnh và điều trị sớm.

Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2013

Tự kỷ là một rối loạn phát triển kéo dài suốt đời ảnh hưởng đến cách giao tiếp và quan hệ của một người đối với người xung quanh. Trẻ tự kỷ bị tổn thuơng trong tương tác xã hội, giao tiếp xã hội và tưởng tượng. Trẻ cũng có hành vi lặp đi lặp lại và nhạy cảm giác quan. Những trẻ này có khuynh hướng có khó khăn trong học tập và nhiều trẻ bị khiếm khuyết về trí tuệ.

Khi cuộc sống ngày càng phát triển, với những khả năng giao tiếp ảo ngày càng phổ biến thì dường như con người càng có xu hướng sống biệt lập và ít giao tiếp với cộng đồng. Ảnh hưởng của lối sống công nghiệp cùng với sự phát triển của internet dường như làm cho bệnh tự kỷ có xu hướng phát triển.

Nguyên nhân gây bệnh
Tự kỷ là một rối loạn ở não đi kèm với một loạt những vấn đề về phát triển, chủ yếu là về giao tiếp và tương tác với xã hội. Bệnh hay gặp ở các bé trai, gấp 4 lần các bé gái. Dấu hiệu và triệu chứng của bệnh tự kỷ đôi khi không rõ ràng nên nhiều bậc phụ huynh thường không phát hiện được. Chỉ đến khi có những dấu hiệu quá khác thường, trẻ mới được đưa đến bệnh viện.
nguyen-nhan-gay-benh-tu-ky-o-tre-em
Sinh hoạt tập thể giúp trẻ hòa đồng hơn
Nhìn chung, trẻ tự kỷ thường có những vấn đề trong 3 lĩnh vực quan trọng của quá trình phát triển là: kỹ năng giao tiếp, ngôn ngữ và hành vi. Những trẻ bị bệnh nặng có thể mất hoàn toàn khả năng giao tiếp hoặc tương tác với người khác. Trong vài tháng hoặc vài năm đầu sau khi ra đời, trẻ có thể hoàn toàn bình thường, nhưng sau đó trẻ dần trở nên kém đáp ứng với người khác. Trẻ cũng khó chia sẻ trải nghiệm với người khác, ví dụ khi được nghe người khác đọc truyện, trẻ không chỉ ra được bức tranh trong câu chuyện đó. Khi lớn lên, một số trẻ có thể hòa nhập hơn với người xung quanh và có thể có cuộc sống bình thường hoặc gần bình thường. Tuy nhiên, một số trẻ khác tiếp tục bị suy giảm khả năng ngôn ngữ và giao tiếp, và có những rối loạn hành vi trầm trọng hơn. Đa số trẻ tự kỷ chậm học được các kiến thức và kỹ năng mới, tuy nhiên một số trẻ có trí tuệ bình thường hoặc khá thông minh. Một số nhỏ trẻ còn được xem là những “thần đồng” và có những kỹ năng đặc biệt trong một lĩnh vực nhất định, như nghệ thuật hoặc toán học. Vì vậy, đối với những trường hợp trẻ có khả năng khác thường một chút so với các em khác, cần tìm hiểu kỹ và giúp các em hòa nhập với cộng đồng, tránh làm cho trẻ tự tách mình ra khỏi môi trường tập thể và bệnh trở nên trầm trọng hơn.
Bệnh tự kỷ không có một nguyên nhân duy nhất. Bệnh có vẻ liên quan đến những bất thường ở nhiều vùng não, và các nhà khoa học đã xác định được một số khuyết tật gen có liên quan với bệnh. Gia đình có một trẻ bị tự kỷ thì khả năng có đứa con thứ hai cũng bị bệnh thường xảy ra. Trẻ có triệu chứng tự kỷ cũng có nguy cơ cao bị các bệnh gây chậm phát triển tâm thần, gây ra những khối u trong não hoặc động kinh.
Chẩn đoán và điều trị
Vì bệnh có mức độ nặng và biểu hiện rất khác nhau, nên có thể rất khó chẩn đoán. Không có xét nghiệm đặc hiệu nào để phát hiện ra bệnh mà chủ yếu là do quan sát hành vi và thái độ của trẻ trong giao tiếp và ứng xử. Khám bệnh bao gồm quan sát trẻ và hỏi về sự phát triển và thay đổi trong kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ngôn ngữ và hành vi của trẻ qua thời gian. Trẻ có thể được làm một số trắc nghiệm về nói chuyện, ngôn ngữ và các vấn đề tâm lý.
Mặc dù dấu hiệu bệnh thường biểu hiện khi trẻ được 18 tháng tuổi, nhưng chẩn đoán có khi phải đợi đến khi trẻ được 2 hoặc 3 tuổi, khi biểu hiện chậm phát triển ngôn ngữ đã trở nên rõ ràng. Chẩn đoán sớm là rất quan trọng vì can thiệp sớm - trước 3 tuổi - thường mang lại khả năng phục hồi tốt nhất. Hiện nay, chưa có cách chữa khỏi bệnh tự kỷ và không có biện pháp nào phù hợp cho tất cả. Các lựa chọn điều trị gồm liệu pháp hành vi và giao tiếp nhằm giải quyết những khó khăn về giao tiếp, ngôn ngữ và hành vi của trẻ. Thuốc không cải thiện được các dấu hiệu chủ yếu tự kỷ, nhưng có thể giúp kiểm soát các triệu chứng. Việc dùng các thuốc điều trị tâm thần phải hết sức thận trọng và tùy từng trường hợp mà có sự lựa chọn thích hợp. Tuyệt đối không tự ý cho trẻ dùng các thuốc kích thích hoặc thuốc an thần khi chưa có chỉ định của bác sĩ. Các liệu pháp hỗ trợ như: nghệ thuật, âm nhạc, chế độ ăn đặc biệt, bổ sung vitamin và muối khoáng cần được duy trì và có tác dụng tốt nếu có sự phối hợp chăm sóc và thể hiện sự quan tâm âu yếm của người thân đối với trẻ. Tại các trung tâm y khoa chuyên ngành, trẻ thường đáp ứng tốt với các chương trình giáo dục được cấu trúc chặt chẽ, có sự tham gia của một nhóm các chuyên gia và bao gồm nhiều hoạt động khác nhau để cải thiện kỹ năng ứng xử, giao tiếp và hành vi.
Bệnh tự kỷ ở trẻ em cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, cộng đồng và môi trường điều trị để giúp trẻ lấy lại cân bằng trong phát triển tinh thần và thể chất. Nếu không được điều trị, bệnh này sẽ tạo ra những rối loạn nhân cách của người bệnh trong tương lai và đôi khi gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với cộng đồng và xã hội. Một số vụ thảm sát gần đây gây ra ở trường học, nơi công cộng ở các nước phương Tây có nguyên nhân bắt đầu từ những đứa trẻ mắc bệnh tự kỷ ngay từ thời thơ ấu.

Sởi, Quai bị và Rubella là ba loại bệnh gây ra bởi siêu vi trùng và rất dễ lây lan. Trẻ có thể bị mắc bệnh khi tiếp xúc với dịch tiết bắn ra từ người bệnh lúc người bệnh ho, hắt hơi, nhảy mũi. 

Với ba loại bệnh này, hầu hết trẻ khi mắc bệnh đều hồi phục hoàn toàn sau một thời gian ngắn. Tuy vậy, ở những trẻ có sức đề kháng kém, trẻ bị suy dinh dưỡng, trẻ bị suy giảm miễn dịch bẩm sinh hoặc mắc phải, bệnh xảy ra có thể diễn tiến nặng gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm.
soi-quai-bi-rubella-can-than-khi-tre-mac-phai
Tiêm phòng là cách tốt nhất để phòng bệnh
Dễ lây lan và biến chứng nguy hiểm
Thực tế, nhiều người còn thiếu hiểu biết và rất chủ quan với căn bệnh này nên dẫn tới những trường hợp bệnh nặng, thậm chí tử vong đáng tiếc. Điển hình gần nhất là trường hợp một bé trai hơn 2 tuổi trong tình trạng toàn thân nổi ban đỏ, sốt cao và bé rất mệt mỏi. Mẹ bé cho biết bé bị bệnh sởi, vì gia đình sợ bé ra gió sẽ nặng thêm nên lúc nào cũng ủ kín bé. Sau khi được tư vấn gia đình mới hiểu do chăm sóc sai nên bé mới bị nặng thêm.
Hiện nay sởi, quai bị và rubella là những căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đối với trẻ em vì khả năng lây nhiễm khá cao trong cộng đồng và có khả năng tạo thành dịch lớn. Khi nhiễm bệnh thì sẽ có nhiều tác động bất lợi trên sức khỏe trẻ. Nguy hiểm nhất là những biến chứng các bệnh này để lại như viêm não, viêm phổi, viêm tinh hoàn ở trẻ nam, viêm buồng trứng ở bé gái, viêm khớp hoặc hội chứng rubella bẩm sinh làm trẻ sinh ra bị rất nhiều dị tật trên cơ thể như điếc, mù, bệnh tim bẩm sinh và kém phát triển. Ngoài ra, sởi được xem là nguyên nhân phổ biến gây tử vong cho trẻ em, quai bị có thể gây vô sinh ở nam giới.
Nhận biết bệnh
Hầu hết khi trẻ mắc bệnh sởi, quai bị và rubella có triệu chứng giống nhau như sốt, ho, đau nhức. Bệnh sởi sẽ xuất hiện ban dạng sẩn đầu tiên là ở sau tai sau đó lan đến mặt rồi lan dần xuống bụng và toàn thân. Sau khi hết sẽ để lại vết thâm trên da. Nổi ban dày và màu nhạt hơn ban sởi là bệnh rubella, bên cạnh đó kèm theo tình trạng sưng hạch, đau khớp. Quai bị thường bị sưng tuyến mang tai, gây đau nhức khi nhai và sưng tinh hoàn.
Riêng đối với trẻ có hội chứng rubella bẩm sinh thường có những dấu hiệu như đục thủy tinh thể và giảm thính giác nhưng chỉ có thể nhận thấy từ 2 - 4 năm sau.
Tiêm ngừa phòng bệnh
Khi trẻ nhiễm bệnh có dấu hiệu sốt trên 38,50C nên cho trẻ uống thuốc hạ sốt. Nếu trẻ ho có thể cho uống thuốc giảm ho. Về chế độ ăn uống, phải đầy đủ chất dinh dưỡng, ăn thức ăn lỏng, mềm và có thể chia nhỏ khẩu phần ăn làm nhiều lần trong ngày giúp trẻ dễ tiêu hóa. Nên cho trẻ uống thêm nhiều nước đặc biệt là các loại nước ép trái cây giàu vitamin C. Hạn chế cho trẻ vận động thể lực mạnh như chạy nhảy, đùa giỡn. Ngoài ra, phải giữ vệ sinh tốt cho trẻ để tránh nhiễm thêm vi trùng, tuyệt đối không nên ủ kín hoặc kiêng tắm khi trẻ bị sởi bởi sẽ làm cho tình trạng bệnh thêm trầm trọng. Bên cạnh đó cần chú trọng việc vệ sinh nhà cửa và môi trường chung quanh, giữ gìn phòng ốc thông thoáng, sạch sẽ và cách ly trẻ lành với người bệnh.
Cách phòng ngừa bệnh sởi, quai bị và rubella cho trẻ hiệu quả nhất là tiêm ngừa vắc-xin phòng bệnh. Hiện nay đã có vắc-xin 3 trong 1 (một mũi tiêm chứa cả 3 thành phần sởi, quai bị và rubella) giúp phòng ngừa các bệnh này. Trẻ từ 12 - 15 tháng tuổi có thể tiêm ngừa để phòng tránh hiệu quả các bệnh này.

Thứ Sáu, 13 tháng 9, 2013

Ngoài các mẹo dân gian truyền thống của Việt Nam để trị táo bón cho trẻ nhỏ rất hay được các bà các mẹ rỉ tai nhau như dùng mật ong bôi hậu môn của trẻ, ăn vừng, ăn khoai lang, chuối,… xin mách mẹ 4 phương pháp cực độc đáo của những bà mẹ phương Tây:

1. Nước mận

Những gì mẹ cần:
Bình sữa
Nước đun sôi để nguôi
Nước ép mận
Làm như thế nào:
Nước mận đã được khoa học chứng minh là rất hữu ích trong việc bôi trơn để phân của trẻ dễ dàng thoát ra khi đang táo bón. Để thực hiện phương pháp này, mẹ cần đổ nước đun sôi để nguội vào ¾ bình sữa của con. Thêm ¼ nước ép mận và lắc đều rồi đưa trẻ uống. Mẹ lưu ý nước ép mận không được dùng để thay thế sữa mẹ hay sữa công thức. Do đó, chỉ cho bé uống thêm nước mận như loại nước tráng miệng, khẩu phần sữa của con mỗi ngay vẫn cần được duy trì như bình thường.
Ngoài nước mận, mẹ cũng có thể thay thế cho con bằng nước ép cam hoặc lê.
Mùa mưa đến cùng những thay đổi đột ngột của thời tiết khiến em dù đã cố gắng hết sức cũng không thể tránh khỏi những cơn ho có thể kéo dài dai dẳng. Từ mẹ đến con, cứ thỉnh thoảng lại sụt sùi vì ho.
Như trường hợp của em, sinh bé Kem thiếu tháng, mới 35 tuần bé đã đòi ra và phải nuôi trong lồng kính gần nửa tháng trời. Xót xa nhìn con còn nhỏ nằm một mình cách ly với bố mẹ, em không khỏi đau lòng và lo lắng. Những em bé sinh thiếu tháng thường có sức đề kháng không được bằng những em bé nằm đủ ngày đủ tháng trong bụng mẹ. Vì thế ngay từ lúc sinh con ra em đã rất ý thức trong việc chăm sóc và bảo vệ con khỏi những nhân tố có hại xung quanh em.
Kem nhà em quanh năm được bố mẹ và ông ba chăm chút để ý quần áo mặc cho bé để tránh bị cảm, bị sốt hay viêm phế quản do thời tiết nóng lạnh thất thường. Thậm chí em còn rất cẩn thận tránh để bé đổ mồ hôi hoặc bị lạnh khi có sự chênh lệch nhiệt độ trong nhà và ngoài trời.
Hơn 6 tháng Kem mới tập tọe biết lẫy, gần 8 tháng tuổi em mới dám đưa bé ra ngoài hít thở khí trời và chiêm ngưỡng cảnh vật thế giới xung quanh. Nhưng dù có cố gắng giữ gìn cho con thế nào cũng không tránh được những lúc bé bị ốm.
Chảy nước mũi, kèm ho, sốt cao (có khi trên 38ºC); bị tiêu chảy, nôn trớ, mất cảm giác thèm ăn.

Thứ Năm, 12 tháng 9, 2013

Công thức điều trị bệnh sởi hiệu quả  - Sởi là một trong các nguyên nhân gây còi xương, suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi, thậm chí có trường hợp gây ra tử vong. Trẻ bị lây sởi nếu điều trị không kịp thời có thể dẫn đến tiêu chảy kéo dài, viêm phổi, viêm phế quản...

Bệnh sởi: Những điều cần biết về bệnh sởi - Những vết đỏ khắp cơ thể làm người ta chú ý tới bệnh sởi. Nhưng thực ra đây chỉ là một trong những triệu chứng bên ngoài, những thay đổi bên trong mới nguy hiểm, có thể gây chết người.




Sởi là một bệnh nhiễm trùng đường hô hấp do siêu vi gây ra. Từ vài chục năm nay, với thuốc chích ngừa, bệnh sởi ít xẩy ra ở những quốc gia phát triển, nhưng vẫn còn là một ám ảnh kinh hoàng cho những người dân các nước đang phát triển. Bệnh rất dễ lây và dễ dàng lan ra từ những người đi du lịch.

1. Triệu chứng:

Khoảng 10 tới 12 ngày sau khi tiếp xúc với siêu vi sởi, những triệu chứng sau đây có thể xẩy ra:

1. Sốt
2. Ho khan
3. Chảy nước mũi
4. Mắt đỏ
5. Không chịu được ánh sáng
6. Những nốt nhỏ xíu với trung tâm mầu xanh trắng xuất hiện bên trong miệng nơi gò má. Những nốt này có tên là đốm Koplik.
7. Người mọc ra những đốm đỏ lớn, phẳng, chập vào nhau

2. Diễn biến bệnh

Bệnh sởi thường bắt đầu với một cơn sốt khá nhẹ, kèm theo những triệu chứng như ho, chảy mũi, mắt đỏ và đau cổ họng. Khoảng 2, 3 ngày sau, đốm Koplik nổi lên, đốm này là dấu hiệu đặc biệt của bệnh. Sau đó, bệnh nhân có thể bị sốt cao lên tới 40 hay 40,5 độ C. Cùng lúc đó, những mảng đỏ nổi lên, thường là ở trên mặt, theo đường tóc và sau tai. Những vết đỏ hơi ngứa này có thể dấn lan xuống ngực, lưng và cuối cùng xuống tới đùi và bàn chân. Khoảng một tuần sau, những vết nhỏ này sẽ nhạt dần, vết nào xuất hiện trước sẽ hết trước.

3. Nguyên nhân

Bệnh sởi gây ra do siêu vi sởi. Bệnh này hay lây đến nỗi 90% những người tiếp xúc với bệnh nhân sẽ bị lây nếu chưa chích ngừa. Siêu vi sởi có ở mũi và cổ họng của bệnh nhân. Họ thường đã có thể lây bệnh cho người khác 4 ngày trước khi vết đỏ xuất hiện. Khi bệnh nhân ho, hắt xì, hay nói chuyện, những giọt nước nhỏ xíu chứa siêu vi sẽ bắn ra không khí và người khác có thể hít vào hoặc những giọt này có thể rơi xuống một nơi nào đó như mặt bàn, điện thoại…Khi ta sờ vào những nơi này và đưa tay lên mũi hay miệng, ta sẽ bị lây bệnh.

Khi vào cơ thể, siêu vi sởi thường mọc vào trong những tế bào đằng sau cổ họng và phổi. Sau đó bệnh sẽ lan khắp cơ thể kể cả hệ hô hấp và da. Bệnh rất nặng nếu bệnh nhân bị thiếu vitamin A, một điều dễ thấy ở những nước kém phát triển, do người dân thiếu ăn.

Sau khi khỏi bệnh, cơ thể chúng ta sẽ có kháng thể chống bệnh nên ta sẽ không mắc lại nữa. Nếu bạn sinh trước năm 1957, bạn thường đã có kháng thể chống bệnh dù chưa hề chủng ngừa. Đó là vì bạn đã sống qua nhiều thời kỳ mà bệnh sởi hoành hành rất nhiều và nhiều phần bạn đã có nhiễm siêu vi dù có thể không lộ ra. Do đó bạn đã có miễn nhiễm.

4. Biến chứng

Bệnh sởi thường kéo dài từ 10 tới 14 ngày. Ở vài nơi trên thế giới, nó là một bệnh nặng có thể gây ra chết người. Tuy nhiên thường thì bệnh nhân có thể qua khỏi. Những biến chứng có thể xảy ra:

1 - Nhiễm trùng tai xảy ra ở 1 trong 10 trẻ bị sởi
2 - Viêm não: xảy ra ở khoảng 1 trong 1.000 người mắc Não bị nhiễm siêu vi trùng gây ra ói mửa, kinh giật, có khi hôn mê. Viêm não có thể xảy ra sau khi phát bệnh sởi hoặc có thể xảy ra rất nhiều năm sau, vào tuổi vị thành niên, do một loại siêu vi mọc chậm, nhưng trường hợp này rất hiếm.
3 - Sưng phổi: khoảng 1 trong 20 trường hợp. Có thể nguy hiểm chết người.
4 - Tiêu chảy và ói mửa: thường xẩy ra cho trẻ nhỏ.
5 - Sưng cuống phổi, sưng thanh quản.
6 - Phụ nữ có thai mắc bệnh sởi có thể hư thai, sinh sớm hay sinh trẻ nặng cân.
7 - Thiếu tiểu cầu khiến máu khó đông.

5. Ngăn ngừa sởi

Văcxin ngừa sởi rất công hiệu. Trước khi có văcxin ngừa, mỗi năm riêng ở Mỹ có chừng 450.000 ca bệnh, gây ra khoảng 450 cái chết. Việc chủng ngừa rộng rãi đã giảm con số này 99%.

Văcxin ngừa sởi được dùng riêng, hoặc gộp chung với văcxin ngừa quai bị và rubella (bệnh sởi Đức). Thuốc dùng cho trẻ em từ 12 tới 15 tháng và thêm liều thứ hai lúc 4, 5 tuổi.

Bác sĩ Viện Các bệnh nhiệt đới và truyền nhiễm quốc gia khuyến cáo các gia đình nên tiêm nhắc lại văcxin sởi cho con em và ngay cả người lớn (dưới 30 tuổi) nếu chưa tiêm hoặc đã tiêm lâu thì nên đi tiêm.
  
Thắc mắc của cha mẹCon tôi thường xuyên viêm hai bên mép, không biết có phải vì thiếu chất dinh dưỡng nào không? Nên làm thế nào ?
Trả lời
Chốc mép không phải là hiện tượng hiếm có trong trẻ em, một nguyên nhân là thiếu vitamin B2, vitamin PP, một nguyên nhân khác là môi bị ướt, ví dụ như mút tay, chảy nước dãi, khiến da loét lở. Chốc mép do bất kỳ nguyên nhân gì gây nên đều có thể kế phát nhiễm trùng, mà bé vì đau không hé miệng được , do đó ảnh hưởng đến ăn uống.

Đối với chốc mép do thiếu vitamin B2 và vitamin PP gây nên , chúng ta phải cho bé ăn nhiều thức ăn giàu vitamin B2 như trứng, thịt nạc, sữa đậu và chế phẩm đậu, và thức ăn giàu vitamin PP như thịt, cá, sữa, rau, như vậy có thể chữa và phòng ngừa chốc mép do thiếu vtamin gây nên. Trong ngũ cốc cũng có chứa một lượng nhất định vitamin B2 và PP, nhưng hiện nay sự gia công ngũ cốc quá tinh, làm mất khá nhiều 2 loại vitamin này.
Đối với bệnh chốc mép do mút tay gây nên  cần lưu ý sữa thói quen mút tay cho bé, vì nước bọt dẫn đến chốc mép phải chú ý giữ mép khô ráo. Mắc bệnh chốc mép có thể bôi một số kháng sinh mềm, để có thể tiêu viêm và giúp liền lỡ loét.

Về mùa đông, da bị khô, bong vảy trắng và nứt thành đường trên tay, ống chân... Đó là biểu hiện của bệnh da cá, hay còn gọi là da mốc, da rắn. Cần hạn chế tình trạng khô, căng da bằng các thuốc kem dịu da, bạt sừng, kết hợp uống vitamin A, C, D, E từng đợt.
Bệnh da cá có tính di truyền, có thể xuất hiện ngay sau sinh hoặc khi được 2-3 tuổi.
 Một số biểu hiện bệnh:
- Nếu nhẹ, da khô ráp, róc vảy mỏng (da mốc), nhất là về mùa đông.
- Nếu nặng thì toàn thân da khô ráp, nổi vảy hình tròn hoặc hình trám, giữa các khe ngang dọc như da rắn, màu nâu xám.
- Triệu chứng rõ nhất là ở vùng da dày như lưng, mông, mặt ngoài các chi. Vùng da mỏng như nách, bẹn, khuỷu tay chân, cổ mặt... thường không bị.
- Chức năng tiết mồ hôi và chất nhờn trên da giảm rõ rệt so với người bình thường.
- Những hôm trời lạnh, da mặt, rìa lòng bàn tay chân thường bị nẻ. Một số vùng do gãi, chà xát mạnh dễ bị xây xước, nhiễm khuẩn thứ phát, nổi mụn nhọt, chốc lở, do sức đề kháng của da vốn đã suy giảm.
Tuy nhiên, đây chỉ là bệnh da lành tính, không ảnh hưởng đến sức khỏe toàn thân.

Phương pháp điều trị:
- Hiện nay, chỉ có thể hạn chế phần nào trạng thái khô, căng da, róc vẩy bằng các thuốc kem dịu da, bạt sừng, và kết hợp uống vitamin A, C, D, E từng đợt trong mùa đông.
- Tránh chà xát, kỳ cọ mạnh lên vùng da bệnh khi tắm.
- Mùa đông cũng chỉ nên dùng nước ấm vừa phải.
- Không nên lạm dụng xà phòng vì càng tẩy hết lớp nhờn trên da vàng làm da thêm khô, căng dễ nứt nẻ, giảm sức đề kháng.
- Tăng cường ăn rau, quả tươi như giá đỗ, cà chua, bắp cải, rau ngót, cam bưởi, đu đủ… để bổ sung nguồn vitamin cần thiết cho da.
Design by Hao Tran | Blogger Theme by Sức khỏe sinh sản -