Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh hiện nay. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh hiện nay. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 12 tháng 9, 2013

 
Tại một số tỉnh miền Bắc, bệnh thuỷ đậu tuy chưa thành dịch nhưng đang lan nhanh ra một số tỉnh. Theo khuyến cáo của các bác sĩ, không sử dụng gốc rạ để tắm hoặc đắp lá cho người mắc bệnh thủy đậu (trái rạ) vì có thể làm bội nhiễm da.


 
 Nốt đỏ xuấy hiện trên cơ thể người mắc thuỷ đậu.
Bệnh thuỷ đậu hay còn gọi là trái rạ do vi-rút Varicella Zoster gây nên, xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng đa phần là trẻ em.

Biểu hiện dễ nhận biết nhất là lúc phát bệnh nổi trái rạ ngoài da. Khoảng 2-3 tuần từ khi nhiễm vi-rút đến phát bệnh người bệnh không có triệu chứng gì.

Sau đó, người bệnh sẽ có những triệu chứng như sốt nhẹ hoặc có thể sốt cao, nhức đầu, đau cơ, chán ăn, mệt mỏi, da xuất hiện nhiều vết đỏ. Vài ngày sau, những chỗ này xuất hiện mụn nước mọc theo nhiều đợt gọi là nốt rạ.

Nổi nốt trái rạ xuất hiện rất nhanh có thể trong 12-24 giờ, toàn thân hay rải rác ở da đầu, mặt, thân và tay chân, bóng nước từ 2-3mm, lõm ở giữa, nhiều tuổi (mụn mới xen kẽ nhiều mụn cũ). Đầu tiên các mụn này mịn và trong, sau đó đục như mủ rồi đóng vảy sau 4-5 ngày và kéo dài khoảng 10-14 ngày, có thể để lại sẹo vĩnh viễn nếu bị nhiễm trùng.

Bệnh thuỷ đậu lây truyền như thế nào?

Bệnh rất dễ lây vì vi-rút theo nước bọt, nước mũi bắn ra khi người bệnh nói chuyện, khóc, hắt hơi, ho… thậm chí truyền từ mẹ sang con qua nhau thai.

Ở phụ nữ mang thai nguy cơ truyền thủy đậu cho thai nhi là rất có thể. Những tác hại có thể gây ra cho trẻ là trẻ sinh thiếu tháng, dị tật ở chân tay, não và mắt, tử vong; nguy cơ xuất hiện nhiều nhất sau khi phụ nữ mang thai trong ba tháng đầu bị nhiễm vi-rút gây thủy đậu, khi đó có thể lên đến 25% trẻ chết ngay khi sinh, sẩy thai hay sinh non.

Trẻ sơ sinh mắc thuỷ đậu nguyên nhân là do sự lây truyền virus Varicella Zoster (VZV) từ bà mẹ bị nhiễm sang thai nhi trong lúc mang thai. Bà mẹ bị nhiễm 2 tuần hay lâu hơn trước khi sinh thì những trẻ sơ sinh bị bệnh thường nhẹ, nhưng mẹ bị nhiễm một vài ngày trước khi sinh điều đó có nghĩa là kháng thể của người mẹ không đủ khả năng tạo miễn dịch thụ động cho con, và 30% trong số trẻ sơ sinh này sẽ tử vong do thủy đậu lan tỏa và hay do những biến chứng.

Bệnh thuỷ đậu nếu không điều trị kịp thời có thể dẫn tới một số biến chứng đến hệ thần kinh, da, phổi và những cơ quan khác.

Biến chứng thường gặp của bệnh thuỷ đậu

Biến chứng thông thường nhất là mụn nước bội nhiễm các vi khuẩn khác. Các vi khuẩn này vào các nốt rạ sưng to lên, gây ngứa làm trẻ không chịu được gãi trầy da, gây mưng mủ, để lại sẹo. Nếu nặng sẽ gây nhiễm khuẩn huyết.

Bệnh thuỷ đậu không chỉ xảy ra ở trẻ nhỏ mà còn gặp ở người lớn. Người lớn khi mắc bệnh sẽ nặng hơn so với trẻ nhỏ. Sốt cao hơn và kéo dài hơn, các nốt rạ nhiều hơn. Nhưng quan trọng hơn cả là có nhiều khả năng gặp các biến chứng như: viêm phổi đặc biệt ở người hút thuốc lá và phụ nữ mang thai. Tử vong có thể xảy ra ở người lớn mắc bệnh thuỷ đậu

Cách phòng bệnh

 
 Tiêm phòng bệnh chỏ trẻ em

Khi mắc bệnh thuỷ đậu là vệ sinh ngoài da, tắm rửa sạch sẽ, thoa xanh methylène. Ngoài ra, không sử dụng gốc rạ để tắm hoặc dùng các loại lá để đắp lên vì có thể lây bội nhiễm.

Cắt móng tay để trẻ khỏi gãi hoặc làm xước da, uống thuốc giảm ngứa, hạ sốt bằng Paracetamol, không được uống Aspirin.

Đối với trẻ em, cho trẻ ăn ăn uống bình thường.

Nếu người thân bị bệnh, cách ly người bệnh ít nhất 6 ngày kể từ lúc nổi nốt trái rạ. Trẻ bị bệnh có thể trở lại bình thường sau thời gian này. Lưu ý phụ nữ đang mang thai nên tránh tiếp xúc với người bệnh.

Để không mắc bệnh thì biện pháp tích cực nhất và hiệu quả nhất vẫn là chủng ngừa vắc-xin. Vắc-xin phòng bệnh trái rạ hiện đã có tại trung tâm y tế dự phòng tỉnh. Vắc-xin có tính an toàn cao, hầu như không có tác hại phụ; khoảng 5% sốt nhẹ sau khi chích. Vắc-xin tạo sự miễn nhiễm lâu dài với bệnh trái rạ.

Chủ Nhật, 8 tháng 9, 2013

Tự kỉ là sự rối loạn phức tạp trong quá trình phát triển tự nhiên. Tuy nhiên không phải ai cũng hiểu đúng về trẻ bị tự kỉ.


1.Tự kỉ là một dạng của rối loạn cảm xúc và thần kinh

Tự kỉ ở trẻ em không phải do rối loạn thần kinh
Dựa vào những hành vi và giao tiếp của trẻ bị tự kỉ, ta có thể cho rằng đây là chứng bệnh của rối loạn tâm lý, nhưng thực ra tự kỉ là một rối loạn sinh học làm cản trở sự phát triển và tưởng thành của não.
Ông Micheal Alessandri, giám đốc điều hành của trung tâm tự kỉ thuộc trường đại học Miami có nói: “Đó là hành vi xã hội, giao tiếp và những thói quen lặp đi lặp lại, thu hẹp hạn chế tương tác với xung quanh”. Mặc dù hiện nay, người ta đã nhận ra tự kỉ là một trong những chứng bệnh rối loạn thần kinh nhưng cũng có thể coi là một rối loạn phức tạp bởi triệu chứng quá đa dạng.
2.Đang có đại dịch tự kỉ
Những hiểu lầm thông thường về trẻ bị tự kỉ 2
Tự kỉ ở trẻ không phải là đại dịch
“Đại dịch” hàm ý một sự bùng nổ khủng khiếp về số người mắc bệnh tự kỉ trong khoảng thời gian nhất định. Theo báo cáo của cơ quan kiểm soát và phòng bệnh dịch Hoa Kỳ thì cứ 150 trẻ sinh ra thì có một trẻ bị tự kỉ. Một số người cho rằng căn bệnh này đang lan rộng hơn và phổ biến hơn trở thành đại dịch.
Tuy nhiên theo đánh giá của Dr.Bob Marion giám đốc trung tấm đánh giá và tái hòa nhập cho trẻ thuộc trường cao đẳng Y Albert College of Medice ở New York có nói:”Căn bệnh này không phải đang lan rộng hơn mà người ta chỉ phát hiện được bệnh này nhiều hơn thôi”.
3.Có thể chữa bệnh tự kỉ
Những hiểu lầm thông thường về trẻ bị tự kỉ 3
Có nhiều phương pháp điều trị nhưng chưa có cách chữa khỏi tự kỉ
Một số cha mẹ cho rằng chỉ cần chế độ ăn đặc biệt, thuốc và một số can thiệp về hành vi có thể chữa khỏi bệnh cho trẻ bị tự kỉ. Nhưng đa phần sau khi thử chế độ can thiệp đó đều không thấy hiệu qủa. Thực ra có nhiều phương pháp điều trị tự kỉ nhưng chưa ai biết cách chữa khỏi bệnh tự kỉ.
Phân tích hành vi ứng dụng hay còn gọi là ABA, một hình thức can thiệp dành cho trẻ mới phát hiện ra, sử dụng các hành động lặp đi lặp lại để cải thiện chức năng giao lưu và thể chất cho trẻ. Theo Marion không hề có một phương cách chữa khỏi bệnh tự kỉ mà việc chữa bệnh còn phải phụ thuộc vào sự đánh giá của bác sĩ xem phương pháp điều trị đó có đem lại hiệu quả nhất định hay không.
4.Tự kỉ do cha mẹ lạnh nhạt và không yêu thương
Những hiểu lầm thông thường về trẻ bị tự kỉ 4
Nhiều nghiên cứu cho thấy tự kỉ ở trẻ em không phải do cha mẹ
Trong những năm 1940, một bác sĩ người Áo đã cho ra thuyết lết luận bệnh tự kỉ ở trẻ là do cha mẹ, đặc biệt người mẹ không yêu thương con mình khiến chúng thu mình lại và trở thành bệnh tự kỉ. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu khác đã bác bỏ lý thuyết này. Theo các chuyên gia y học bệnh tự kỉ của trẻ chẳng hề liên quan đến cách nuôi dưỡng trẻ và cũng không có chứng cứ nào để chứng minh rằng cha mẹ đã làm gì và không làm gì để con mình mắc chứng tự kỉ.
5.Người tự kỉ không thể tạo dựng quan hệ tốt
Những hiểu lầm thông thường về trẻ bị tự kỉ 5
Người tự kỉ có khả năng tạo dựng mối quan hệ xã hội
Suy cho cùng đây là việc vơ đũa cả nắm và cần phải xét từng trường hợp vì bệnh tử kỉ phổ biến vô cùng rộng. Và một số trẻ bị tự kỉ vẫn có thể có quan hệ xã hội nhưng thường không phải là những trẻ bị nặng.
6.Người tự kỉ là mối đe dọa với xã hội
Những hiểu lầm thông thường về trẻ bị tự kỉ 6
Người tự kỉ gây nguy hiểm cho xã hội là ý kiến sai lầm
Ý kiến này có thể làm tổn hại đến những người mắc bệnh tự kỉ đặc biệt là trẻ em. Thực tế có những tin tức người tự kỉ chức năng cao đã bị phát hiện trộm cắp hay giết người. Tuy nhiên nếu nhìn tổng thể  thì những người tự kỉ dính vào tội phạm rất nhỏ. Nếu người tự kỉ nào đó có hành vi phạm tội chỉ có thể do họ bị kích động quá mức, chứ không phải do hành vi và động cơ đen tối.
Trên đây là những hiểu lầm thường gặp về trẻ bị tự kỉ và những người bị tự kỉ nói chung. Hi vọng bài viết này sẽ giúp bạn có cách nhìn toàn diện nhất về chứng tự kỉ.
Chúc bạn luôn khỏe mạnh cùng khamchuabenh.info!
Design by Hao Tran | Blogger Theme by Sức khỏe sinh sản -