Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh năm 2013. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh năm 2013. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 17 tháng 9, 2013


Bác sĩ Vũ Quý Hợp - Trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp (Bệnh viện Nhi TƯ) cho biết, tại Khoa Tiêu hóa lúc cao điểm luôn có 40-50 bệnh nhi đến điều trị tiêu chảy.


Tháng 12-2006 và tháng 1-2007 tới đây là thời điểm được các bác sĩ cảnh báo có nguy cơ cao bùng phát dịch tiêu chảy do virus. Bệnh nhân bị tiêu chảy do Rotavirus thường từ 5 tuổi trở xuống. Tại phòng điều trị bệnh nhân nội trú, nhiều nhất vẫn là trẻ bắt đầu thời kỳ ăn dặm (4-6 tháng) đến 2 tuổi. 


Cháu Duy Trường vừa tròn 1 tuổi (huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc) bị tiêu chảy đã 9 ngày nhưng vẫn chưa có dấu hiệu đỡ bệnh. Mất nước nhiều khiến cơ thể bé gầy gò, da xanh nhợt, phải truyền dịch liên tục. Trong 6 ngày điều trị tại Bệnh viện Nhi TƯ, bé đã được các bác sĩ truyền cho 8 chai dịch vì cháu không thể ăn uống được, lại tiêu chảy nhiều khiến cơ thể mất nước. Những ngày đầu cháu bị tiêu chảy tới gần 20 lần, có khi chỉ 1 đêm đã đi ngoài 10 lần.

Hôm 1-12, các bác sĩ lại phát hiện bệnh nhi này bị ho do viêm phổi. Bác sĩ Hợp cho biết, có một số trường hợp bệnh nhân cùng lúc bị virus tấn công vào hệ tiêu hóa và phổi nên việc điều trị sẽ kéo dài và bệnh tình nặng hơn.

Bác sĩ Hồ Thị Hiền - Phó trưởng khoa Tiêu hóa cho biết tiêu chảy do Rotavirus thường xuất hiện vào thời điểm giao mùa giữa mùa thu và đông, mùa đông và mùa xuân. Bệnh nhân thường nhập viện trong tình trạng sốt, nôn nhiều, quấy khóc, mệt mỏi, tiêu chảy toàn phân nước lẫn dịch nhầy.

Cho đến nay, khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới và UNICEF đối với điều trị tiêu chảy ở trẻ em là sử dụng dung dịch bù nước và điện giải (Oresol). Đồng thời, tiếp tục cho trẻ bú mẹ, ăn bổ sung như bình thường, không nên sử dụng kháng sinh và thuốc cầm tiêu chảy (trừ trường hợp bị lỵ) vì như vậy sẽ làm rối loạn vi khuẩn đường tiêu hóa khiến bệnh nặng thêm.

Trên thị trường hiện nay có nhiều loại Oresol với hương vị hoa quả rất dễ uống dành cho trẻ em, các phụ huynh có thể cho bé uống theo chỉ dẫn của bác sĩ trong trường hợp trẻ mới bị tiêu chảy và chưa mất nước nhiều.

Thời tiết khô, lạnh là điều kiện thích hợp để bệnh tiêu chảy do Rotavirus phát triển.

Khi trẻ bị tiêu chảy cấp, không phải do vi khuẩn lỵ thì chỉ nên dùng ORS hoặc các dung dịch bù nước điện giải được chế biến từ thức ăn như nước cháo muối (không mặn quá), nước gạo rang, súp cà rốt, nước hồng xiêm xay... 

Bác sĩ Hiền cho biết thêm, có thể dùng thêm một số men tiêu hóa vi sinh như: lacteolfor, lactominplus, antibio, biosubtil: 1-2 gói/ngày, cốm biobaby: 4-6 thìa/ngày chia 3-4 lần. 

Tuyệt đối không bù nước cho trẻ bằng cách cho uống nước có ga, nước hoa quả pha đường trong khi trẻ bị tiêu chảy vì sẽ làm bệnh tình nặng thêm.

Khi thấy dấu hiệu trẻ mất nước nhiều như mệt mỏi, sốt cao, li bì cần đưa tới cơ sở y tế để được theo dõi và điều trị kịp thời.

Các bà mẹ cũng không nên kiêng khem quá kỹ cho bé trong lúc bị bệnh sẽ khiến trẻ bị thiếu chất dinh dưỡng, giảm sức khỏe và lâu hồi phục. Theo bác sĩ Hiền, khi trẻ bị tiêu chảy vẫn cho bú mẹ bình thường (với trẻ còn bú mẹ) và phải cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho bé bằng cách chia thành nhiều bữa ăn nhỏ trong 1 ngày.

Bác sĩ Hợp cảnh báo, do Rotavirus tồn tại trong không khí và dễ phát triển khi điều kiện vệ sinh không đảm bảo nên rất dễ lây chéo từ trẻ này sang trẻ khác dẫn tới dịch tiêu chảy.

Vì vậy, người lớn nên giữ vệ sinh cho trẻ và bản thân mình trong khi chăm sóc trẻ. Trường hợp bệnh nhi Duy Trường nói trên là ví dụ của việc không đảm bảo vệ sinh. Sau khi bị tiêu chảy 4 ngày, cháu bé đã khỏi nhưng chỉ sau một ngày được xuất viện đã phải nhập viện trở lại do người mẹ không giữ vệ sinh trong lúc chăm sóc con nên bé bị tái phát tiêu chảy.

Bác sĩ Hiền cho biết, có một số gia đình nhầm lẫn việc con bị tiêu chảy do virus với việc trẻ đi ngoài phân lỏng, sốt, nôn do mọc răng nên khi nhập viện đã quá muộn, cháu bé mất nước nhiều nên cơ thể rất yếu.

Điều quan trọng nhất trong phòng bệnh tiêu chảy cho trẻ trong mùa lạnh là đảm bảo vệ sinh và dinh dưỡng trong các bữa ăn để trẻ đủ sức khỏe chống lại bệnh và giúp cơ thể nhanh hồi phục. 


Bé yêu bị suy dinh dưỡng, trướng bụng, táo bón, ậm ạch khó chịu, sốt... Bạn hãy cẩn thận! 

 Nhiều phụ huynh thấy con mình không tự đi tiêu được chỉ nghĩ bé bị táo bón đơn thuần. 
Họ thường cho con ăn rau lang, uống thuốc nhuận tràng hoặc đến các cơ sở y tế mua dụng cụ tự thụt tháo vài lần cho trẻ. Việc này rất nguy hiểm nếu bé bị mắc chứng bệnh phình đại tràng bẩm sinh. 


Căn bệnh dễ phát hiện

Tình trạng phình đại tràng do vô hạch bẩm sinh (Hirschsprung) là bệnh về đường tiêu hoá bẩm sinh, nguy hiểm và khá phổ biến ở trẻ. Bệnh do trực tràng hoặc cả đại tràng của bé xuất hiện một đoạn không có hạch thần kinh. Điều này khiến nhu động ruột hoạt động không bình thường.


Nó như thanh barie chắn đường làm bé ăn không tiêu. Các chất thải ứ đọng lại, gây trướng bụng và tắc ruột, có thể dẫn đến tử vong.

Theo phó giáo sư Trần Ngọc Bích, trưởng khoa phẫu thuật Nhi, bệnh viện Hữu Nghị Việt - Đức Hà nội, tuỳ độ dài đoạn ruột vô hạch, mức độ nặng nhẹ của bệnh sẽ khác nhau. Dựa và triệu chứng lâm sàng, bố mẹ trẻ có thể phát hiện dấu hiệu của căn bệnh này.

Đối với trẻ sơ sinh 24 giờ sau khi chào đời, thường đi tiêu phân xu. Những ngày sau trẻ có thể đại tiện 4 - 8 lần trong ngày.

Đại tràng của bé sẽ có vấn đề nếu đoạn vô hạch dài, sau 24 giờ con bạn sẽ không đi tiêu phân xu. Bé sẽ khó chịu, bụng trướng, sẽ bị nôn (vì đầy bụng), rất dễ dẫn đến viêm phổi và sốt...

Nếu không phát hiện sớm sẽ dẫn đến tình trạng bé bị viêm ruột, thủng ruột, nặng có thể dẫn đến tử vong.

Khi đoạn vô hạch ngắn, biểu hiện của bệnh thường là táo bón kéo dài. Bụng trẻ trướng to dần vì có thể bé vẫn cố gắng đại tiện được nhưng không hết, chất thải tích tụ trong ruột. Trẻ ăn uống kém, gầy yếu.

Sau thời gian dài, ruột giãn to dần, có thể gây viêm, tắc hoặc thủng ruột. Do vậy, bố mẹ thường phát hiện bệnh khi bé đã ngoài độ tuổi sơ sinh. Việc chữa trị ở giai đoạn này sẽ khó khăn hơn.

Cách xử trí và chữa trị cho trẻ

Hiện nay, phương pháp duy nhất giúp bé khỏi bệnh là cắt bỏ đoạn trực - đại tràng vô hạch, nối đầu đại tràng lành với ống hậu môn.

Sau khi khám lâm sàng, bác sĩ sẽ cho chụp X-quang để phát hiện đoạn hẹp, mức độ nặng nhẹ. Sau đó họ tiến hành sinh thiết trực tràng để xác định vô hạch thần kinh.

Tiếp đến là thông thụt, tháo phân qua đường hậu môn. Trường hợp nặng, đoạn ruột vô hạch dài, không thụt tháo được phải phẫu thuật cấp cứu.

Phó giáo sư Trần Ngọc Bích cho biết thêm: "Trẻ từ 3 tháng tuổi trở lên có thể phẫu thuật cắt bỏ đoạn vô hạch nối đại tràng với ống hậu môn. Trong thời gian chuẩn bị, bố mẹ sẽ được cấp dụng cụ và hướng dẫn cách chăm sóc, thụt tháo cho bé. Tuyệt đối không tự ý xử trí tại nhà, sẽ rất nguy hiểm đến tính mạng của trẻ" .

Nếu phát hiện bệnh sớm và chăm sóc tốt, chỉ cần phẫu thuật một lần, trẻ sẽ khỏi bệnh. Thời gian thực hiện kéo dài 2 giờ, chi phí khoảng 2 triệu đồng (miễn phí cho bệnh nhân dưới 6 tuổi khi điều trị đúng tuyến).

Người ta thường nói đến bệnh loét dạ dày ở người lớn, tuy nhiên trẻ em cũng bị bệnh này. Loét dạ dày - tá tràng ở trẻ em có triệu chứng không giống như người lớn, vì vậy dễ bị chẩn đoán và điều trị nhầm. Có đến 50% trường hợp đến bệnh viện vì biến chứng của loét.

Những triệu chứng lâm sàng của loét dạ dày - tá tràng ở trẻ em như thế nào?

Đau bụng vùng trên rốn: Đau thất thường, không theo chu kỳ mùa và ngày (mùa tức là đau nhiều về mùa rét, ngày tức là lúc đói đau nhiều hơn lúc no). Đau ban đêm, sau khi ngủ một lúc, chừng 12 giờ đêm đến 1 giờ sáng, cơn đau xuất hiện làm mất ngủ, đau trước khi ăn hoặc sau khi ăn. Trẻ xanh xao, thiếu máu, giảm cân. Ở trẻ em không rõ ràng như người lớn, trẻ em ít khi đau âm ỉ, chịu đựng được, mà thường đau dữ dội, lăn lộn như giun lên ống mật. Nhiều bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị như giun chui ống mật hoặc đau bụng do giun.
Ợ hơi, ợ chua gặp ở người lớn, tuy không đặc hiệu cho bệnh nhân loét nhưng ít gặp ở trẻ em và cũng khó khai thác dấu hiệu này. Vì cho là không hoặc ít gặp, các dấu hiệu lâm sàng lại mơ hồ cho nên trẻ được đưa đến bệnh viện muộn, khi có biến chứng như chảy máu, hẹp và thủng dạ dày.
Làm thế nào để biết chắc chắn trẻ bị loét dạ dày?
Trẻ cần được khám chuyên khoa để điều trị sớm, đúng quy cách và kiên trì.
Bác sĩ dựa trên phim chụp dạ dày và nội soi dạ dày – tá tràng. Tuy chụp phim có giá trị rất lớn nhưng cũng khó đọc, không điển hình như ở người lớn, chỉ thấy tá tràng rúm ró không có dạng củ hành như bình thường. 1/3 trường hợp có hình ảnh loét trên phim Xquang, khi soi lại không có tổn thương. Do vậy, sau khi chụp phim việc soi dạ dày là cần thiết và bắt buộc để không còn nghi ngờ trong chẩn đoán.
Những điều lưu ý trong điều trị
Chế độ ăn uống ở trẻ bị bệnh dạ dày rất quan trọng, phải chia làm nhiều bữa (4-5 bữa 1 ngày), chú ý chế độ ăn uống giàu dinh dưỡng. Tuy vậy, chiều cao và cân nặng của trẻ bị bệnh dạ dày - tá tràng cũng rất ít khi đạt như một trẻ bình thường.
 Nếu phát hiện sớm, điều trị ngay, 80% số loét khỏi hẳn. Nhưng nếu muộn tỷ lệ này giảm còn khoảng 50%.
Khi cần mổ, phải cắt 2/3 thể tích dạ dày. Sau mổ, chỉ còn 1/3 dạ dày, tức là dạ dày sẽ rất nhỏ. Sau đó sẽ giãn dần ra và cuối cùng cũng gần bằng dạ dày khi chưa cắt.
Sau mổ một số ít bị tái phát và biến chứng. Nếu đau bụng tương tự hoặc đau hơn trước khi mổ, cần tới nơi đã điều trị cho trẻ để kiểm tra lại xem có loét ở nơi mới hay không.
Loét dạ dày – tá tràng là một bệnh lành tính. Nguyên nhân sinh bệnh còn chưa khẳng định nhưng điều kiện thuận lợi là bệnh có tính chất gia đình, trẻ bị chấn thương về tinh thần (bố mẹ đánh đập, ruồng bỏ, lo lắng trong học hành). Khi loét lượng acid trong dạ dày tăng cao. Gần đây người ta còn tìm thấy loét do vi trùng. Nó đã được khẳng định ở người lớn và trẻ em. Điều trị bằng thuốc hay mổ cũng nhằm vào hạ độ acid, chống vi trùng để hết loét và chữa bệnh.
Triệu chứng không điển hình, hình ảnh phim khó khẳng định, cả gia đình và thầy thuốc ít nhạy bén nghĩ đến bệnh, trẻ điều trị muộn là điều tất yếu. Một trẻ, nhất là trẻ trai, đau kéo dài trên 2 tháng vùng trên rốn, cần đưa trẻ tới khám để chụp, soi dạ dày, mới hy vọng điều trị tốt được.
Loét dạ dày ở trẻ em có các biến chứng gì?
50% số trẻ bị loét đến bệnh viện vì các biến chứng:
Chảy máu: Khi loét sâu vào lớp cơ của ruột hoặc hết cả lớp thành ruột, thủng vào các mạch máu, gây ra chảy máu. Nôn ra máu cục lẫn thức ăn, hoặc chảy vào trong lòng ruột: đại tiện ra phân đen.
Hẹp môn vị: Tức là hẹp phần cuối của dạ dày. Loét xơ chai làm rúm đoạn đầu của ruột non (tá tràng) làm hẹp gần hoàn toàn hoặc hoàn toàn trong ruột.
Trẻ ăn vào, thức ăn ứ đọng lại ở dạ dày nhuyễn ra, lên men... rồi nôn ra thức ăn có mùi chua, lợn cợn, nổi bọt. Trước khi nôn, trẻ đau bụng nổi cuộn ở trên rốn, sau khi nôn xong trẻ dễ chịu hẳn, có khi khó nôn, phải kích thích miệng, họng để nôn ra. Tiếp đó là tình trạng da nhăn nheo, mắt trũng, đại, tiểu tiện ít do mất nước và coi như không được ăn uống gì.
Thủng dạ dày: Nếu ổ loét làm thủng thành ruột sẽ gây tràn hơi, dịch có trong dạ dày vào ổ bụng. Trẻ đau đột ngột, vật vã. Đau không dám thở. Bụng cứng như sờ vào tấm gỗ, hoặc miếng các-tông.
Dù là loại biến chứng nào cũng phải đưa tới bệnh viện ngay để cứu chữa kịp thời. Nếu muộn sẽ đe dọa tính mạng của trẻ. Hẹp môn vị và thủng dạ dày bắt buộc phải điều trị bằng phẫu thuật, chảy máu là ranh giới giữa điều trị nội khoa và ngoại khoa.

Tôi nghe nói bệnh lồng ruột sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng trẻ nhỏ nếu không được phát hiện sớm. Triệu trứng và cách xử lý căn bệnh này thế nào? (Lê Thị Thu- thành phố Thanh Hoá).

Trả lời của bác sĩ Nguyễn Văn Lộc, phó giám đốc Viện Nhi TƯ:

 Lồng ruột là tai biến thường xảy ra ở trẻ còn bú mẹ trong độ tuổi 4 - 9 tháng.
 Do nhiều nguyên nhân, khi bị lồng ruột, các mạch máu nuôi ruột bị tắc nghẹt, không nuôi được đoạn ruột lồng dẫn đến hoại tử.
 Cần lưu ý khi thấy trẻ đột ngột có những biểu hiện như: bỏ bú, da tím tái, không chú ý đến xung quanh mà khóc thét từng cơn, có thể ưỡn người hoặc co 2 chân về phía trước do đau bụng dữ dội. Những cơn đau bụng thường diễn ra từng cơn kéo dài khoảng 15-20 phút.
 Bên cạnh triệu trứng đau bụng trẻ thường bị nôn ra dịch nhầy màu xanh xanh hoặc vàng. Sau khi nôn trẻ rất mệt, nằm li bì hoặc kích thích vật vã, thở khò khè…Trẻ cũng có thể đại tiện ra máu và thường lẫn với chất nhầy, mầu đỏ hoặc nâu, có khi cả máu đen.
 Khi thấy trẻ có những biểu hiện này cần đưa ngay các cháu đến bệnh viện để chụp X quang và siêu âm để chẩn đoán chính xác nhằm lên phương điều trị phù hợp.
 Cần lưu ý, lồng ruột là chứng bệnh rất nguy hiểm. Đã có một số  bệnh nhi được đưa đến bệnh viện trong tình trạng nguy cấp đến tính mạng do người trong gia đình chủ quan lầm tưởng trẻ bị đau bụng do tiêu hoá hay bị đi ngoài thông thường.

Thứ Hai, 16 tháng 9, 2013

Dùng men đường ruột dòng vi khuẩn Lactobacillus reuteri có thể cải thiện chứng đau bụng cho trẻ sơ sinh, nghiên cứu mới đây thừa nhận.

Men đường ruột là một loại men vi sinh giúp cân bằng vi khuẩn đường ruột đã bị rối loạn, có tác dụng hồi phục lại các sinh vật đã bị chết vì một lý do nào đó (chủ yếu là do thuốc kháng sinh). Chứng đau bụng ở trẻ sơ sinh hiện chưa thể xác định chính xác nguyên nhân nhưng có thể phát hiện dựa trên biểu hiện khóc quá nhiều mặc dù trẻ vẫn ăn tốt, sức khỏe bình thường.
 Thực nghiệm trên gần 90 trẻ sơ sinh có cùng tuổi, cân nặng, giới tính và thời gian khóc được chia thành 2 nhóm: 41 trẻ dùng men đường ruột và 42 trẻ dùng thuốc chống đầy hơi, trướng bụng trong 28 ngày. Kết quả cho thấy:
 - Chỉ sau 7 ngày điều trị, chứng đau bụng giảm rõ rệt hơn hẳn ở nhóm dùng men đường ruột L reuteri so với nhóm thuốc chống đầy hơi, chướng bụng với tỉ lệ dứt cơ đau bụng lên tới 95% so với 7%.
 - Những trẻ uống men đường ruột sau 28 ngày điều trị khóc ít hơn trẻ điều trị bằng thuốc đầy hơi, chướng bụng là 51 – 145 phút.
 Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy nếu các bà mẹ hạn chế tối đa các thực phẩm có thể gây dị ứng thì triệu chứng đau bụng ở trẻ sơ sinh cũng sẽ giảm bớt.
 Mặc dù men đường ruột được đánh giá là an toàn hơn hẳn thuốc trị đầy hơi, chướng bụng nhưng cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa để có thể khẳng định rằng men đường ruột là loại thuốc điều trị chứng đau bụng ở trẻ sơ sinh hiệu quả nhất.

Do nhiều nguyên nhân, bệnh tiêu chảy ở trẻ em gia tăng từ sau Tết Nguyên đán đến nay.  Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, khi nào nên đưa trẻ nhập viện, phòng bệnh cho trẻ như thế nào...? Bác sĩ Phạm Thị Ngọc Tuyết  - Trưởng khoa Tiêu hóa - gan mật Bệnh viện Nhi đồng 2 (TP.HCM) cho biết:


- Có một số nguyên nhân khiến bệnh tiêu chảy cấp, rối loạn tiêu hóa ở trẻ em gia tăng: Thông thường, hằng năm loại bệnh này phát triển vào dịp cuối năm cũ và đầu năm mới (tháng 12, tháng 1, tháng 2). Dịp cuối năm, thời tiết lạnh, bệnh tiêu chảy xảy ra nhiều là do siêu vi; ngoài ra, dịp cuối năm có nhiều đám tiệc, tần suất ăn uống nhiều; riêng ở thời điểm sau Tết, thời tiết nắng nóng làm cho thức ăn mau ôi thiu, là điều kiện thuận lợi để vi trùng gây bệnh đường ruột phát triển. 


Đặc biệt, thời điểm sau Tết Nguyên đán, bệnh tiêu chảy cấp, rối loạn tiêu hóa gia tăng còn do ăn nhiều thức ăn dự trữ. Do đặc điểm người dân hay mua thức ăn trữ lạnh trong dịp Tết, sau khi nấu nướng, hâm tới hâm lui để dùng (đây là yếu tố rất hay gặp) khiến dễ mắc bệnh tiêu chảy! Ngoài ra, đây cũng là dịp người ta ăn hàng quán nhiều. 

* Đặc điểm của trẻ bị tiêu chảy, lúc nào nên đưa trẻ vào viện?

- Bác sĩ Phạm Thị Ngọc Tuyết: Những triệu chứng thường gặp ở trẻ mắc bệnh tiêu chảy gồm: sốt, đau bụng, ói, tiêu chảy. Nếu mắc bệnh nhẹ, không mất nước, không sốt cao, trẻ ăn uống bình thường, chưa phải nhập viện thì cần cho trẻ ăn uống đầy đủ, dùng những thức ăn dễ tiêu hóa, chia làm nhiều bữa ăn, và nhớ bù nước cho trẻ bằng dung dịch nước biển khô (có bán sẵn ở các nhà thuốc).

Nếu trẻ sốt cao, bỏ ăn, ăn vào ói ra, tiêu chảy nhiều... thì phải đưa trẻ vào viện ngay bởi biến chứng do tiêu chảy ở trẻ nhỏ rất nguy hiểm, trẻ mất nước nặng sẽ bị trụy tim mạch, sốc, có thể tử vong. Khi nhập viện, nếu bệnh nhẹ, bình quân điều trị khoảng 4 ngày. Nếu nặng, có nhiễm trùng kèm theo thì thời gian nằm viện lâu hơn. 

Để phòng ngừa, cần giữ vệ sinh trong ăn uống và vệ sinh cá nhân cho trẻ. Nên dùng những thức ăn tươi, nấu chín; hạn chế thức ăn hàng quán, lề đường không đảm bảo vệ sinh; thường xuyên vệ sinh tủ lạnh trữ thức ăn; cho trẻ rửa tay trước khi ăn và sau khi đi tiêu... 

Một số bài thuốc theo kinh nghiệm dân gian và bài thuốc cổ phương sau đây sẽ có công dụng trị chứng tiêu chảy ở trẻ.

 
 Hoài sơn
* Theo kinh nghiệm dân gian

+ Mã đề, lá mơ tam thể, búp ổi, tô mộc, củ sắn dây...

+ Nếu tiêu chảy do nguyên nhân ăn, bú thất thường, tỳ vị suy yếu thì dùng các vị như: mề gà (sao vàng), các vị thuốc: sơn tra, chỉ thực, thần khúc, sa nhơn (sao vàng), trần bì, hoàng đằng, hậu phác (sao gừng).

+ Nếu thể trạng suy nhược, thì dùng các vị: hạt sen, hoài sơn, bột thịt cóc, bố chính sâm, ý dĩ (sao vàng), và liên nhục.

Mỗi loại trên dùng từ 10gr - 20gr, chọn từ 2 - 3 vị để hợp lại thành một thang, đem sắc uống, sẽ có công dụng thanh nhiệt, ôn kiện tỳ thận...

 
 Bạch phục linh
* Bài thuốc cổ phương

Bài thuốc Bảo hòa hoàn: Thành phần gồm: sơn tra, thần khúc, liên kiều, la bặc tử (mỗi vị 100gr), trần bì, bán hạ (mỗi vị 60gr) và 160gr phục linh. Tất cả đem sắc để dùng, có công dụng trị các chứng: cơn đau bụng là đi tiêu ngay, nhưng sau khi tiêu rồi thì bụng hết đau, bụng hông đầy chướng...

Bài Dị công hoàn: Thành phần gồm các vị thuốc: 20gr phòng đảng sâm, bạch truật (sao với gạo),  20gr bạch phục linh, 6gr chích cam thảo, 6gr trần bì (sao với gừng), 4 lát gừng, 4 quả đại táo. Tất cả đem sắc uống từ từ, sẽ có công dụng tỳ hư tiết tả, dùng để trị các chứng: ăn xong đi tiêu liền phân sống, môi lưỡi nhạt, ăn kém...  

Điểm cần lưu ý là phải giữ vệ sinh trong ăn uống cho trẻ, nên ăn chín, uống sôi, dùng những thức ăn dễ tiêu hóa; đồng thời khi thấy trẻ có dấu hiệu tiêu chảy nặng cần đưa trẻ đi khám ngay, vì bệnh diễn biến rất nhanh...

 

Do nhiều nguyên nhân, bệnh tiêu chảy ở trẻ em gia tăng từ sau Tết Nguyên đán đến nay.  Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, khi nào nên đưa trẻ nhập viện, phòng bệnh cho trẻ như thế nào...? Bác sĩ Phạm Thị Ngọc Tuyết  - Trưởng khoa Tiêu hóa - gan mật Bệnh viện Nhi đồng 2 (TP.HCM) cho biết:


- Có một số nguyên nhân khiến bệnh tiêu chảy cấp, rối loạn tiêu hóa ở trẻ em gia tăng: Thông thường, hằng năm loại bệnh này phát triển vào dịp cuối năm cũ và đầu năm mới (tháng 12, tháng 1, tháng 2). Dịp cuối năm, thời tiết lạnh, bệnh tiêu chảy xảy ra nhiều là do siêu vi; ngoài ra, dịp cuối năm có nhiều đám tiệc, tần suất ăn uống nhiều; riêng ở thời điểm sau Tết, thời tiết nắng nóng làm cho thức ăn mau ôi thiu, là điều kiện thuận lợi để vi trùng gây bệnh đường ruột phát triển. 


Đặc biệt, thời điểm sau Tết Nguyên đán, bệnh tiêu chảy cấp, rối loạn tiêu hóa gia tăng còn do ăn nhiều thức ăn dự trữ. Do đặc điểm người dân hay mua thức ăn trữ lạnh trong dịp Tết, sau khi nấu nướng, hâm tới hâm lui để dùng (đây là yếu tố rất hay gặp) khiến dễ mắc bệnh tiêu chảy! Ngoài ra, đây cũng là dịp người ta ăn hàng quán nhiều. 

* Đặc điểm của trẻ bị tiêu chảy, lúc nào nên đưa trẻ vào viện?

- Bác sĩ Phạm Thị Ngọc Tuyết: Những triệu chứng thường gặp ở trẻ mắc bệnh tiêu chảy gồm: sốt, đau bụng, ói, tiêu chảy. Nếu mắc bệnh nhẹ, không mất nước, không sốt cao, trẻ ăn uống bình thường, chưa phải nhập viện thì cần cho trẻ ăn uống đầy đủ, dùng những thức ăn dễ tiêu hóa, chia làm nhiều bữa ăn, và nhớ bù nước cho trẻ bằng dung dịch nước biển khô (có bán sẵn ở các nhà thuốc).

Nếu trẻ sốt cao, bỏ ăn, ăn vào ói ra, tiêu chảy nhiều... thì phải đưa trẻ vào viện ngay bởi biến chứng do tiêu chảy ở trẻ nhỏ rất nguy hiểm, trẻ mất nước nặng sẽ bị trụy tim mạch, sốc, có thể tử vong. Khi nhập viện, nếu bệnh nhẹ, bình quân điều trị khoảng 4 ngày. Nếu nặng, có nhiễm trùng kèm theo thì thời gian nằm viện lâu hơn. 

Để phòng ngừa, cần giữ vệ sinh trong ăn uống và vệ sinh cá nhân cho trẻ. Nên dùng những thức ăn tươi, nấu chín; hạn chế thức ăn hàng quán, lề đường không đảm bảo vệ sinh; thường xuyên vệ sinh tủ lạnh trữ thức ăn; cho trẻ rửa tay trước khi ăn và sau khi đi tiêu... 

Một số bài thuốc theo kinh nghiệm dân gian và bài thuốc cổ phương sau đây sẽ có công dụng trị chứng tiêu chảy ở trẻ.

 
 Hoài sơn
* Theo kinh nghiệm dân gian

+ Mã đề, lá mơ tam thể, búp ổi, tô mộc, củ sắn dây...

+ Nếu tiêu chảy do nguyên nhân ăn, bú thất thường, tỳ vị suy yếu thì dùng các vị như: mề gà (sao vàng), các vị thuốc: sơn tra, chỉ thực, thần khúc, sa nhơn (sao vàng), trần bì, hoàng đằng, hậu phác (sao gừng).

+ Nếu thể trạng suy nhược, thì dùng các vị: hạt sen, hoài sơn, bột thịt cóc, bố chính sâm, ý dĩ (sao vàng), và liên nhục.

Mỗi loại trên dùng từ 10gr - 20gr, chọn từ 2 - 3 vị để hợp lại thành một thang, đem sắc uống, sẽ có công dụng thanh nhiệt, ôn kiện tỳ thận...

 
 Bạch phục linh
* Bài thuốc cổ phương

Bài thuốc Bảo hòa hoàn: Thành phần gồm: sơn tra, thần khúc, liên kiều, la bặc tử (mỗi vị 100gr), trần bì, bán hạ (mỗi vị 60gr) và 160gr phục linh. Tất cả đem sắc để dùng, có công dụng trị các chứng: cơn đau bụng là đi tiêu ngay, nhưng sau khi tiêu rồi thì bụng hết đau, bụng hông đầy chướng...

Bài Dị công hoàn: Thành phần gồm các vị thuốc: 20gr phòng đảng sâm, bạch truật (sao với gạo),  20gr bạch phục linh, 6gr chích cam thảo, 6gr trần bì (sao với gừng), 4 lát gừng, 4 quả đại táo. Tất cả đem sắc uống từ từ, sẽ có công dụng tỳ hư tiết tả, dùng để trị các chứng: ăn xong đi tiêu liền phân sống, môi lưỡi nhạt, ăn kém...  

Điểm cần lưu ý là phải giữ vệ sinh trong ăn uống cho trẻ, nên ăn chín, uống sôi, dùng những thức ăn dễ tiêu hóa; đồng thời khi thấy trẻ có dấu hiệu tiêu chảy nặng cần đưa trẻ đi khám ngay, vì bệnh diễn biến rất nhanh...

Trong các bệnh về hô hấp ở trẻ em thì khó thở thanh quản là một trong những bệnh được đặt trong tình trạng cấp cứu.


Hiện nay tình hình trẻ nhập viện vì các bệnh ở đường hô hấp đang tăng lên, nhiều trường hợp đến bệnh viện trong tình trạng bệnh rất nặng gây khó khăn cho công tác điều trị. 

Nhận biết bệnh và phòng bệnh tốt cho trẻ là điều cần thiết đối với các bậc cha mẹ. Bài viết sau xin đề cập đến khó thở thanh quản ở trẻ em.


Nhận biết dấu hiệu khó thở

Hầu hết trẻ bị khó thở thanh quản đều có những dấu hiệu như hít thở khó, thở chậm, nghe có tiếng rít thanh quản khi thở, xuất hiện các cơn co kéo hô hấp nhất là tình trạng lõm ức và rút lõm lồng ngực. Bên cạnh đó, trẻ còn có những triệu chứng khác như khàn tiếng hay mất tiếng khi nói, ho, khóc. Đầu trẻ thường bị gật gù khi thở và hay bị ngửa ra sau trong thì hít vào. Nếu quan sát thì sẽ thấy sụn thanh quản nhô lên khi hít vào, mặt trẻ bị nhăn lại, hai cánh mũi nở rộng.

Để chẩn đoán mức độ khó thở thanh quản của trẻ, người ta chia ra 3 mức độ nặng, nhẹ khác nhau, đây là yêu cầu rất cần thiết để có thể đưa ra những xử trí đúng đắn nhất.

Mức độ 1: Trẻ xuất hiện khàn và rè tiếng khi khóc, khi nói, nhưng tiếng ho có thể vẫn trong hoặc hơi rè. Biểu hiện khó thở chưa điển hình, tiếng rít thanh quản nhẹ hoặc chưa rõ, cơn co kéo hô hấp ít. Tình trạng toàn thân chưa ảnh hưởng, trẻ vẫn còn chơi, chưa quấy khóc nhiều.

Mức độ 2: Trẻ bị mất tiếng, nói không rõ từ, tiếng ho trở nên ông ổng. Lúc này triệu chứng khó thở thanh quản rất điển hình, tiếng rít thanh quản rõ, cơn co kéo hô hấp mạnh. Trẻ xuất hiện trạng thái kích thích, vật vã, hốt hoảng, lo sợ.

Mức độ 3: Trẻ bị mất tiếng hoàn toàn, khóc hoặc nói không thành tiếng, nghe phều phào. Ngay cả khi ho cũng không thành tiếng hoặc muốn ho mà không ho được. Biểu hiện khó thở trở nên dữ dội, có triệu chứng thiếu ôxy nặng nề, lúc này trẻ có thể bị tím tái, rối loạn nhịp thở. Toàn thân trẻ bị ảnh hưởng thần kinh (hôn mê, lờ đờ hay vật vã...), tim mạch, da tái vã mồ hôi...

Xác định nguyên nhân khó thở

Trong trường hợp trẻ bị khó thở thanh quản cấp tính thường là do những nguyên nhân như: dị vật đường thở, đây là do quá trình ăn, ngậm thức ăn hoặc đồ vật nào đó bị rơi vào thanh quản. Trường hợp này rất hay gặp, nhất là khi trẻ vừa ăn vừa chơi không tập trung. Viêm thanh quản cấp là một nguyên nhân quan trọng gây ra tình trạng này, bệnh xuất hiện có thể do vi khuẩn (H.influenzae, streptocoque, staphylocoque) hoặc do virut (hay gặp nhất là virut cúm, sau đó là virut nhóm myxovirut).

Những trẻ bị còi xương và nhiễm khuẩn nặng ở họng, đau không nuốt, nói được cũng hay mắc phải tình trạng khó thở thanh quản cấp tính. Bên cạnh đó bệnh bạch hầu thanh quản và viêm thanh quản do sởi cũng là những yếu tố quan trọng khiến trẻ rơi vào tình trạng cấp cứu này.

Các trường hợp khó thở mạn tính có thể do mềm sụn thanh quản, dị dạng sụn thanh quản (trong những trường hợp này trẻ sẽ có tiếng thở rít thanh quản bẩm sinh) hoặc do hẹp thanh quản mạn tính (do hậu quả của chấn thương hoặc hẹp thanh quản do u máu, dị dạng bẩm sinh...). Khó thở mạn tính còn do papillone thanh quản, đó là loại u nhú, lành tính ở thanh quản, u phát triển nhanh, tái phát gây khó thở thanh quản từ từ. Để xác định chính xác cần phải soi thanh quản.

Xử trí khi bị khó thở

Tất cả những trường hợp khó thở thanh quản đều cần được theo dõi chặt chẽ và xử trí bệnh kịp thời, đặc biệt là tình trạng cấp tính. Nếu trẻ có nguyên nhân bị dị vật đường thở phải nhanh chóng lấy dị vật khỏi thanh quản. Nhiều trường hợp nặng phải sử dụng mở nội khí quản, thở ôxy. Tùy theo từng nguyên nhân gây bệnh và mức độ bệnh, các bác sĩ sẽ chỉ định sử dụng các loại thuốc khác nhau.

Khó thở thanh quản là bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra trong đó có nhiều nguyên nhân có thể dự phòng được. Các bậc cha mẹ không nên để trẻ ngậm đồ vật dễ gây hóc, mặt khác còn gây nhiễm khuẩn, giun sán. Nên vệ sinh sạch sẽ cho bản thân trẻ và người chăm sóc trẻ, nhất là vệ sinh trước khi cho trẻ ăn và sau khi đi vệ sinh.

Cần tiêm phòng đầy đủ cho trẻ theo lịch tiêm chủng. Mang lại cho trẻ một không gian sống thoáng, sạch. Nếu thấy có những dấu hiệu bất thường ở đường hô hấp nên cho trẻ đi khám ở các chuyên khoa hô hấp để phát hiện bệnh và điều trị sớm.

Thứ Năm, 12 tháng 9, 2013

  
Thắc mắc của cha mẹCon tôi thường xuyên viêm hai bên mép, không biết có phải vì thiếu chất dinh dưỡng nào không? Nên làm thế nào ?
Trả lời
Chốc mép không phải là hiện tượng hiếm có trong trẻ em, một nguyên nhân là thiếu vitamin B2, vitamin PP, một nguyên nhân khác là môi bị ướt, ví dụ như mút tay, chảy nước dãi, khiến da loét lở. Chốc mép do bất kỳ nguyên nhân gì gây nên đều có thể kế phát nhiễm trùng, mà bé vì đau không hé miệng được , do đó ảnh hưởng đến ăn uống.

Đối với chốc mép do thiếu vitamin B2 và vitamin PP gây nên , chúng ta phải cho bé ăn nhiều thức ăn giàu vitamin B2 như trứng, thịt nạc, sữa đậu và chế phẩm đậu, và thức ăn giàu vitamin PP như thịt, cá, sữa, rau, như vậy có thể chữa và phòng ngừa chốc mép do thiếu vtamin gây nên. Trong ngũ cốc cũng có chứa một lượng nhất định vitamin B2 và PP, nhưng hiện nay sự gia công ngũ cốc quá tinh, làm mất khá nhiều 2 loại vitamin này.
Đối với bệnh chốc mép do mút tay gây nên  cần lưu ý sữa thói quen mút tay cho bé, vì nước bọt dẫn đến chốc mép phải chú ý giữ mép khô ráo. Mắc bệnh chốc mép có thể bôi một số kháng sinh mềm, để có thể tiêu viêm và giúp liền lỡ loét.

Về mùa đông, da bị khô, bong vảy trắng và nứt thành đường trên tay, ống chân... Đó là biểu hiện của bệnh da cá, hay còn gọi là da mốc, da rắn. Cần hạn chế tình trạng khô, căng da bằng các thuốc kem dịu da, bạt sừng, kết hợp uống vitamin A, C, D, E từng đợt.
Bệnh da cá có tính di truyền, có thể xuất hiện ngay sau sinh hoặc khi được 2-3 tuổi.
 Một số biểu hiện bệnh:
- Nếu nhẹ, da khô ráp, róc vảy mỏng (da mốc), nhất là về mùa đông.
- Nếu nặng thì toàn thân da khô ráp, nổi vảy hình tròn hoặc hình trám, giữa các khe ngang dọc như da rắn, màu nâu xám.
- Triệu chứng rõ nhất là ở vùng da dày như lưng, mông, mặt ngoài các chi. Vùng da mỏng như nách, bẹn, khuỷu tay chân, cổ mặt... thường không bị.
- Chức năng tiết mồ hôi và chất nhờn trên da giảm rõ rệt so với người bình thường.
- Những hôm trời lạnh, da mặt, rìa lòng bàn tay chân thường bị nẻ. Một số vùng do gãi, chà xát mạnh dễ bị xây xước, nhiễm khuẩn thứ phát, nổi mụn nhọt, chốc lở, do sức đề kháng của da vốn đã suy giảm.
Tuy nhiên, đây chỉ là bệnh da lành tính, không ảnh hưởng đến sức khỏe toàn thân.

Phương pháp điều trị:
- Hiện nay, chỉ có thể hạn chế phần nào trạng thái khô, căng da, róc vẩy bằng các thuốc kem dịu da, bạt sừng, và kết hợp uống vitamin A, C, D, E từng đợt trong mùa đông.
- Tránh chà xát, kỳ cọ mạnh lên vùng da bệnh khi tắm.
- Mùa đông cũng chỉ nên dùng nước ấm vừa phải.
- Không nên lạm dụng xà phòng vì càng tẩy hết lớp nhờn trên da vàng làm da thêm khô, căng dễ nứt nẻ, giảm sức đề kháng.
- Tăng cường ăn rau, quả tươi như giá đỗ, cà chua, bắp cải, rau ngót, cam bưởi, đu đủ… để bổ sung nguồn vitamin cần thiết cho da.
 
Tại một số tỉnh miền Bắc, bệnh thuỷ đậu tuy chưa thành dịch nhưng đang lan nhanh ra một số tỉnh. Theo khuyến cáo của các bác sĩ, không sử dụng gốc rạ để tắm hoặc đắp lá cho người mắc bệnh thủy đậu (trái rạ) vì có thể làm bội nhiễm da.


 
 Nốt đỏ xuấy hiện trên cơ thể người mắc thuỷ đậu.
Bệnh thuỷ đậu hay còn gọi là trái rạ do vi-rút Varicella Zoster gây nên, xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng đa phần là trẻ em.

Biểu hiện dễ nhận biết nhất là lúc phát bệnh nổi trái rạ ngoài da. Khoảng 2-3 tuần từ khi nhiễm vi-rút đến phát bệnh người bệnh không có triệu chứng gì.

Sau đó, người bệnh sẽ có những triệu chứng như sốt nhẹ hoặc có thể sốt cao, nhức đầu, đau cơ, chán ăn, mệt mỏi, da xuất hiện nhiều vết đỏ. Vài ngày sau, những chỗ này xuất hiện mụn nước mọc theo nhiều đợt gọi là nốt rạ.

Nổi nốt trái rạ xuất hiện rất nhanh có thể trong 12-24 giờ, toàn thân hay rải rác ở da đầu, mặt, thân và tay chân, bóng nước từ 2-3mm, lõm ở giữa, nhiều tuổi (mụn mới xen kẽ nhiều mụn cũ). Đầu tiên các mụn này mịn và trong, sau đó đục như mủ rồi đóng vảy sau 4-5 ngày và kéo dài khoảng 10-14 ngày, có thể để lại sẹo vĩnh viễn nếu bị nhiễm trùng.

Bệnh thuỷ đậu lây truyền như thế nào?

Bệnh rất dễ lây vì vi-rút theo nước bọt, nước mũi bắn ra khi người bệnh nói chuyện, khóc, hắt hơi, ho… thậm chí truyền từ mẹ sang con qua nhau thai.

Ở phụ nữ mang thai nguy cơ truyền thủy đậu cho thai nhi là rất có thể. Những tác hại có thể gây ra cho trẻ là trẻ sinh thiếu tháng, dị tật ở chân tay, não và mắt, tử vong; nguy cơ xuất hiện nhiều nhất sau khi phụ nữ mang thai trong ba tháng đầu bị nhiễm vi-rút gây thủy đậu, khi đó có thể lên đến 25% trẻ chết ngay khi sinh, sẩy thai hay sinh non.

Trẻ sơ sinh mắc thuỷ đậu nguyên nhân là do sự lây truyền virus Varicella Zoster (VZV) từ bà mẹ bị nhiễm sang thai nhi trong lúc mang thai. Bà mẹ bị nhiễm 2 tuần hay lâu hơn trước khi sinh thì những trẻ sơ sinh bị bệnh thường nhẹ, nhưng mẹ bị nhiễm một vài ngày trước khi sinh điều đó có nghĩa là kháng thể của người mẹ không đủ khả năng tạo miễn dịch thụ động cho con, và 30% trong số trẻ sơ sinh này sẽ tử vong do thủy đậu lan tỏa và hay do những biến chứng.

Bệnh thuỷ đậu nếu không điều trị kịp thời có thể dẫn tới một số biến chứng đến hệ thần kinh, da, phổi và những cơ quan khác.

Biến chứng thường gặp của bệnh thuỷ đậu

Biến chứng thông thường nhất là mụn nước bội nhiễm các vi khuẩn khác. Các vi khuẩn này vào các nốt rạ sưng to lên, gây ngứa làm trẻ không chịu được gãi trầy da, gây mưng mủ, để lại sẹo. Nếu nặng sẽ gây nhiễm khuẩn huyết.

Bệnh thuỷ đậu không chỉ xảy ra ở trẻ nhỏ mà còn gặp ở người lớn. Người lớn khi mắc bệnh sẽ nặng hơn so với trẻ nhỏ. Sốt cao hơn và kéo dài hơn, các nốt rạ nhiều hơn. Nhưng quan trọng hơn cả là có nhiều khả năng gặp các biến chứng như: viêm phổi đặc biệt ở người hút thuốc lá và phụ nữ mang thai. Tử vong có thể xảy ra ở người lớn mắc bệnh thuỷ đậu

Cách phòng bệnh

 
 Tiêm phòng bệnh chỏ trẻ em

Khi mắc bệnh thuỷ đậu là vệ sinh ngoài da, tắm rửa sạch sẽ, thoa xanh methylène. Ngoài ra, không sử dụng gốc rạ để tắm hoặc dùng các loại lá để đắp lên vì có thể lây bội nhiễm.

Cắt móng tay để trẻ khỏi gãi hoặc làm xước da, uống thuốc giảm ngứa, hạ sốt bằng Paracetamol, không được uống Aspirin.

Đối với trẻ em, cho trẻ ăn ăn uống bình thường.

Nếu người thân bị bệnh, cách ly người bệnh ít nhất 6 ngày kể từ lúc nổi nốt trái rạ. Trẻ bị bệnh có thể trở lại bình thường sau thời gian này. Lưu ý phụ nữ đang mang thai nên tránh tiếp xúc với người bệnh.

Để không mắc bệnh thì biện pháp tích cực nhất và hiệu quả nhất vẫn là chủng ngừa vắc-xin. Vắc-xin phòng bệnh trái rạ hiện đã có tại trung tâm y tế dự phòng tỉnh. Vắc-xin có tính an toàn cao, hầu như không có tác hại phụ; khoảng 5% sốt nhẹ sau khi chích. Vắc-xin tạo sự miễn nhiễm lâu dài với bệnh trái rạ.

Thứ Ba, 10 tháng 9, 2013

ANTĐ – Theo một nghiên cứu mới đây từ Trường Đại học Missouri trẻ bị rối loạn phổ tự kỷ có vẻ được lợi từ liệu pháp điều tri sớm, tích cực giúp cải thiện các kỹ năng xã hội và giao tiếp.
Gia tăng ung thư miệng có liên quan đến… tình dục
Nâng lên những giá trị khó đo đếm
Mục sở thị xưởng sản xuất đồ chơi tình dục lớn nhất thế giới
Căng thẳng kéo dài làm teo não
Chứng bệnh đái dầm của trẻ, và cách chữa
Xử trí bệnh tình dục khi đang mang thai
Trong nghiên cứu này, các tác giả đã đánh giá 15 kỹ năng xã hội – giao tiếp của hơn 1.000 trẻ em và thanh thiếu niên bị tự kỷ, bao gồm các biểu hiện ở mặt, cử  chỉ, ngôn ngữ và các đáp ứng xã hội phù hợp.



Ảnh minh họa

Mặc dù 95% số trẻ có cải thiện về các kỹ năng theo thời gian, song nghiên cứu thấy rằng những trẻ được can thiệp liệu pháp hành vi, ngôn ngữ có kết quả tốt hơn. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu thấy rằng những trẻ được điều trị tích cực từ sớm có mức cải thiện tốt nhất về khả năng xã hội-giao tiếp.

Được đăng tải trên tạp chí Research in Autism Spectrum Disorders, nghiên cứu kết luận rằng các liệu pháp điều trị tích cực, hướng đích có thể là cách hiệu quả nhất để cải thiện các kĩ năng ở trẻ tự kỷ.
(Suc khoe) – Số ca mắc, tử vong do bệnh tay chân miệng tăng kỷ lục; cơ sở y tế bị quá tải; trong khi đó, ngành y tế vẫn chưa có giải pháp căn cơ đối phó bệnh này

Ngày 20-11, tại TPHCM, Bộ Y tế tổ chức hội nghị tăng cường các biện pháp phòng chống bệnh tay chân miệng (TCM).

Cần góp sức của cộng đồng

Theo Bộ Y tế, bệnh TCM hiện nay đã “phủ” khắp 63 tỉnh, thành với 90.189 trường hợp mắc bệnh được ghi nhận, trong đó 153 trường hợp tử vong. Miền Nam là khu vực có số ca mắc, tử vong cao nhất với gần 59.000 ca mắc và 131 ca tử vong. Điều tra cho thấy 91% trường hợp mắc bệnh TCM là trẻ dưới 5 tuổi, 77% là trẻ không đi học.


TS Nguyễn Văn Bình, Cục trưởng Cục Y tế Dự phòng (Bộ Y tế), cho biết ở nước ta, bệnh TCM xuất hiện rải rác từ tháng 1 và tăng cao vào các tháng 8, 9, 10. Dự báo, trong tháng 11, 12, số mắc bệnh có xu hướng giảm. Tuy nhiên, có nguy cơ duy trì số mắc và tử vong cao do nhiều nguyên nhân như: bệnh do virus đường ruột lây theo đường tiêu hóa và tiếp xúc trực tiếp; không có vắc-xin phòng bệnh, không có thuốc điều trị đặc hiệu; có nhiều tuýp virus gây bệnh

…“Hiện nay, bệnh TCM không có biện pháp y tế chữa trị đặc hiệu nên ngành y tế không thể một mình giải quyết mà cần góp sức của cả cộng đồng” – ông Bình cho biết.

Theo TS Trần Ngọc Hữu, Viện trưởng Viện Pasteur TPHCM, so với năm 2009, số tử vong do bệnh TCM cao hơn 5 lần, so với năm 2010 tăng đến 20 lần.


Trẻ điều trị bệnh tay chân miệng tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 (TPHCM)

PGS-TS Nguyễn Trần Hiển, Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, lo ngại tình trạng người lành mang bệnh trong cộng đồng hiện nay là khó kiểm soát. Một điều tra mới đây cho thấy có hơn 50% người lành mang mầm bệnh TCM.

Lo “thủng” tuyến dưới

Bác sĩ Tăng Chí Thượng, Giám đốc Bệnh viện Nhi Đồng 1 – TPHCM, cho biết mỗi ngày, bệnh viện vẫn còn tiếp nhận từ 120-150 ca mắc bệnh TCM. “Chưa bao giờ số bệnh nhi TCM nhập viện nhiều như hiện nay” – bác sĩ Thượng cho biết.

Để san sẻ gánh nặng trong điều trị bệnh TCM, bác sĩ Thượng đề nghị bệnh viện tuyến tỉnh cần tham gia “chia lửa” với tuyến trên. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia y tế lo ngại: Tuyến điều trị địa phương hiện không đủ lực để điều trị loại bệnh nguy hiểm này.

PGS-TS Nguyễn Thị Kim Tiến, Bộ trưởng Bộ Y tế, cho rằng số ca mắc bệnh TCM ở Việt Nam là không cao so với các nước khu vực và nằm trong tầm kiểm soát. Bộ Y tế không có quyền công bố dịch mà chỉ tham mưu để Chính phủ quyết định. Còn mỗi địa phương công bố dịch hay không là tự quyết trên thực tế của mình. Bệnh TCM sẽ còn tồn tại lâu dài. Vì vậy, yêu cầu khâu điều trị phải tăng cường cao nhất.

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đánh giá những nỗ lực của ngành y tế trong việc kiểm soát dịch bệnh thời gian qua. Ông đề nghị cần thực hiện một số vấn đề trọng tâm để khống chế bệnh TCM như phát động “ăn sạch-ở sạch-chơi sạch”; tiếp tục phân tuyến điều trị, tìm phác đồ điều trị mới và hiệu quả nhất để cứu người…

Ozone chỉ có tác dụng hỗ trợ

Về việc thử nghiệm chữa bệnh TCM bằng nước ozone của GS-TS Nguyễn Văn Khải, nguyên giám đốc Trung tâm Tư vấn và Tiết kiệm năng lượng dung dịch hoạt hóa, điện hóa Hà Nội (Viện Khoa học Việt Nam), TS Lương Ngọc Khuê, Cục trưởng Cục Quản lý khám chữa bệnh, khẳng định công trình của TS Khải chỉ là bài thuốc hỗ trợ điều trị giai đoạn 1 bệnh TCM chứ không có tác dụng vào tế bào diệt virus của bệnh này.
Sau nghiên cứu ở một nhóm trẻ song sinh, nhóm chuyên gia ở Đại học Northwestern, Mỹ (NU) phát hiện thấy những đứa trẻ sinh ra nhẹ cân có tỷ lệ mắc bệnh tự kỷ hay còn gọi là rối loạn phổ tự kỷ (ASD) cao hơn so với những đứa trẻ có trọng lượng bình thường.



Ảnh minh họa (nguồn Internet)
Trước nghiên cứu trên, khoa học đã phát hiện thấy trong những ca song sinh nếu một trẻ mắc bệnh tự kỷ thì đứa trẻ còn lại cũng sẽ mắc bệnh theo vì chúng có tới 100% gen giống nhau, nhưng trong nghiên cứu của NU, các nhà khoa học còn tìm thấy những nguyên nhân khác mang tính môi trường.

Theo đó, nếu trọng lượng sơ sinh giảm 100g thì tỷ lệ mắc bệnh ASD lại tăng tới 13%. Kết luận này được dựa vào nghiên cứu ở 3.725 cặp song sinh tại Thụy Điển, trong những cặp song sinh này, có cặp trọng lượng khi sinh chênh nhau tới 400g (khoảng 15%) và đây chính là yếu tố làm tăng bệnh ASD.
          KHẮC NAM(Theo Futurity, 2/2012)
Theo SKĐS
(Lam me) – Nhiều trẻ mắc bệnh không có triệu chứng xuất hiện điển hình như: nổi mẩn ở lòng bàn tay, chân và miệng, thậm chí không bị sốt.
Hãy đến với chuyên mục Sức khỏe của Eva để tìm hiểu những bí quyết ăn ngon, ăn chuẩn, tham khảo những bệnh thường gặp trong cuộc sống, bệnh vùng kín của chị em và những bài thuốc hay rất hữu hiệu cho mẹ và bé.


Theo thống kê của khoa truyền nhiễm bệnh viện nhi trung ương, chỉ trong đêm 14/3 đã có 26 trẻ mắc bệnh chân tay miệng được đưa vào cấp cứu nâng số trẻ hiện đang được điều trị tại đây là 45 trẻ.

Điều đáng nói các trường hợp được đưa vào điều trị đều ở thể rất nặng với các biểu hiện biến chứng như sốc hô hấp, suy tim, viêm màng não. Đặc biệt nhiều trẻ không có triệu chứng điển hình như xuất hiện các nốt ở lòng bàn tay, chân và miệng, thậm chí không bị sốt.
Khi con tròn 1 tuổi, vợ chồng anh N.V.T (quận Bình Thạnh, TP.HCM) gửi hẳn cho một bà hàng xóm trông từ 6h-19h, tối về cũng ít thời gian gần gũi cháu. Đến năm 2 tuổi, cháu vẫn chưa biết nói và nhìn cái gì cũng sợ nên được cho đi nhà trẻ, nhưng bị trả về chỉ sau 2 tuần vì luôn la hét và không nghe theo bất kỳ chỉ dẫn nào. Đây chỉ là một trong nhiều trẻ mắc bệnh tự kỷ được điều trị tại Khoa Tâm lý BV Nhi Đồng 2 TP.HCM.


Từ đầu năm đến tháng 8/2003, Khoa Tâm lý BV Nhi Đồng 2 TP.HCM đã tiếp nhận khoảng 130 trẻ mắc bệnh tự kỷ. Theo các bác sĩ tâm lý, con số này mới chỉ phần nào phản ánh số trẻ mắc bệnh tự kỷ hiện kiểm soát được, vì còn nhiều trẻ vẫn chưa được phát hiện hoặc bị chẩn đoán nhầm nên đã được chuyển vào các trung tâm dành cho trẻ chậm phát triển, trẻ câm điếc.


Bệnh của con nhà giàu

Chuyên gia tâm lý Ngô Xuân Điệp – Khoa Tâm lý BV Nhi Đồng 2 cho biết, nhiều nước gọi bệnh tự kỷ là bệnh của con nhà giàu vì phần lớn trẻ mắc bệnh này đều sinh ra trong những gia đình khá giả, giàu có.

Ghi nhận thực tế tại Khoa Tâm lý BV Nhi Đồng 2, bác sĩ trưởng khoa Thái Thanh Thủy cũng nhận xét, phần lớn trẻ mắc bệnh tự kỷ đến đây điều trị đều sinh ra trong những gia đình khá giả, cha mẹ luôn bận rộn với công việc làm ăn, bệnh nhân ở TP.HCM đông hơn các tỉnh.

Yếu tố nguy cơ của căn bệnh này, theo nhiều chuyên gia, là cha mẹ bận rộn với công việc đã tách con ra quá sớm; trong thời gian mang thai 3 tháng đầu bà mẹ bị nhiễm virus hoặc do di truyền. Về mặt phân tâm học, tách trẻ quá sớm ra khỏi hơi ấm của mẹ sẽ làm trẻ hụt hẫng, mất phương hướng, trẻ dần dần tự cô lập.

3 tuổi vẫn chưa biết nói

BS. Thủy cho biết, tự kỷ là hiện tượng rối loạn về tương tác xã hội, rối loạn về giao tiếp và có hành vi lặp đi lặp lại. Trẻ mắc bệnh tự kỷ chậm nói (2- 3 tuổi vẫn chưa biết nói), hay nói lặp, cách hiểu đơn giản, thiếu quan hệ tiếp xúc về mặt tình cảm với người khác, không bao giờ nhìn thẳng vào người đối diện. Những trẻ này thường say mê một vật gì đó quá đáng, lúc nào cũng giữ và ôm khư khư trong tay. Chúng rất thích sắp xếp đồ vật theo thứ tự, ngăn nắp một cách kỳ lạ và có biểu hiện hung hăng khi thứ tự đó bị xáo trộn.

Trẻ mắc bệnh tự kỷ có kỹ năng cao về nhìn nhận không gian, giỏi học vẹt, hình thức bề ngoài có vẻ linh hoạt, thông minh khác hẳn với các trẻ chậm phát triển trí tuệ. Tình trạng này có thể phát hiện sớm nếu cha mẹ thường xuyên chú ý đến trẻ.

Những dấu hiệu giúp phát hiện bệnh sớm

BS. Thái Thanh Thủy cho biết, nếu cha mẹ chú ý có thể phát hiện bệnh khi trẻ mới ở tháng đầu sau khi sinh. Đối với những đứa trẻ bình thường, chúng có thể nghe và ngửi được mùi của mẹ, khi được mẹ ôm vào lòng sẽ có biểu hiện khoan khoái dễ chịu nhưng trẻ tự kỷ thì không tiếp nhận được bằng các giác quan.

Thường thì trẻ 3 tháng có thể tự ngóc đầu được nhưng trẻ tự kỷ không thể làm như vậy, khi được bồng bế cơ thể như đờ ra.

Lúc 6 tháng tuổi, trẻ tự kỷ sẽ có biểu hiện quá ngoan hoặc quá hung hăng, không cười, nhìn xa xôi, không bám lấy mẹ (ai bế cũng được), không biết cách ôm ấp lại mẹ, không biết phát âm những tiếng đơn giản như a, à, ba… Trẻ bình thường ở độ tuổi này rất thích đồ chơi nhưng trẻ mắc bệnh tự kỷ lại không chú ý đến.

Khi được 1 tuổi, trẻ tự kỷ vẫn không tiếp xúc bằng mắt, không biết bắt chước, thờ ơ với tiếng động.

Lên 2 tuổi, trẻ có những vận động bất thường như đi bằng đầu ngón chân, ngồi hay lắc người, vặn xoắn tay chân… Ngôn ngữ lặp lại, tiếp xúc kém, tình cảm nghèo nàn, vệ sinh chưa tự chủ.


Theo chuyên gia tâm lý Ngô Xuân Điệp, việc phát hiện và điều trị sớm sẽ rất quan trọng trong việc uốn nắn và phát triển nhân cách của trẻ sau này. Nếu được điều trị sớm, trẻ có thể hòa nhập được với cộng đồng, tự lập trong cuộc sống, còn nếu không được điều trị trẻ sẽ không nói được, sống lệ thuộc vào sự chăm sóc của người khác, qua 10 tuổi dễ bị tâm thần.

Điều trị tự kỷ khác với điều trị tâm thần

Trước đây, các nước trên thế giới điều trị bệnh tự kỷ như bệnh tâm thần. Ngày nay hướng điều trị mới cho các trẻ mắc bệnh này là chữa bệnh bằng tâm lý. Cụ thể:

Xây dựng lại cấu trúc tâm lý và nhân cách cá nhân tùy từng trường hợp cụ thể, giúp trẻ trở lại đúng khung tâm lý của trẻ.
Xây dựng và phát triển mối quan hệ giữa trẻ với gia đình (đặc biệt là với mẹ), quan hệ giữa trẻ với giáo viên, với bạn bè và môi trường xung quanh để thiết lập mối quan hệ tương tác xã hội.
Tập cho trẻ có ý thức về bản thân và tự khẳng định bản thân.
Tập phát triển ngôn ngữ phù hợp với khả năng của trẻ.

BS. Phạm Ngọc Thanh- Trưởng đơn vị tâm lý, BV Nhi Đồng 1 TP.HCM kể, bệnh nhân mắc bệnh tự kỷ ở Pháp thường được điều trị tại các trung tâm hoặc ở các bệnh viện trong ngày, trừ những trường hợp quá nặng mới phải điều trị nội trú.

Các trung tâm, bệnh viện này có những phương pháp trắc nghiệm để tìm ra năng lực riêng của từng trẻ (hội họa, nấu ăn, may vá, đóng kịch, vi tính, làm vườn, nặn đất sét, cắt dán hình…). Sau đó, sắp xếp các cháu vào những lớp học khác nhau, phù hợp với năng lực. Bác sĩ tâm lý sẽ nghiên cứu, tìm hiểu nguyện vọng của trẻ, làm tâm lý trị liệu dưới nhiều hình thức để giúp trẻ giao tiếp.

Sau nhiều năm điều trị, đến lúc trẻ khỏi bệnh và hòa nhập cộng đồng, các cháu có thể tự kiếm sống bằng nghề đã được học trong trung tâm, bệnh viện. Không ít trẻ tự kỷ đã trở thành họa sĩ, diễn viên nổi tiếng, lập trình viên…

BS. Thanh cho biết, ở Việt Nam có Khoa Tâm lý – Bệnh viện Nhi Đồng 2 điều trị bệnh tự kỷ theo kiểu bệnh viện ban ngày (như ở Pháp), nhưng quy mô còn nhỏ nên chưa có điều kiện giúp trẻ phát triển hết năng lực vốn có.

Phòng tự kỷ: Đặt và gọi tên con khi thai nhi… 6 tháng

Để tránh cho trẻ nguy cơ mắc bệnh tự kỷ, BS. Phạm Ngọc Thanh – Trưởng đơn vị tâm lý, BV Nhi Đồng 1 TP.HCM khuyên các bà mẹ sớm tìm hiểu, học hỏi cách chơi và giao tiếp với con. Thai nhi 6 tháng đã có năng lực nhìn, nghe, vì vậy sau khi siêu âm xác định thai trai hay gái, bố mẹ nên đặt tên để gọi tên và nói chuyện với con trong thời gian này. Sau khi trẻ ra đời, cha mẹ nên tìm cách chơi, trò chuyện với trẻ để giúp trẻ phát triển năng lực.

BS. Thanh lưu ý nhiều bà mẹ hiện nay chỉ quan tâm đến vấn đề dinh dưỡng mà ít quan tâm đến kỹ năng chơi và giao tiếp với trẻ.
Bệnh chân tay miệng là căn bệnh thường gặp ở trẻ em và rất nguy hiểm nếu không biết cách phát hiện, phòng tránh và điều trị kịp thời. Nguy hiểm hơn là bệnh có thể để lại biến chứng gây nên viêm màng não, viêm cơ tim… có thể gây tử vong. Vì vậy các gia đình có trẻ nhỏ cần nắm chắc thông tin về căn bệnh này.


Dịch tễ học
Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 3 tuổi và rất ít thấy ở trẻ trên 5 tuổi. Một điểm cần lưu ý là trong một đợt dịch bệnh, trẻ có thể bị mắc bệnh tái đi tái lại nhiều lần cho đến khi được 5 tuổi mới có miễn dịch hoàn toàn với bệnh.
Nguyên nhân gây bệnh
Tác nhân gây bệnh chân tay miệng trước đây được biết là vi-rút Coxsackie. Khảo sát tại bệnh viện nhi đồng đã xác nhận sự hiện diện của Enterovirus 71 và vi-rút Coxsakie trong các đợt dịch bệnh tại TP.HCM.
Sự lây truyền bệnh
Vi-rút gây bệnh có khả năng lây lan rất nhanh qua đường miệng.Trong những đợt dịch, bệnh có thể lây rất nhanh từ trẻ này sang trẻ khác qua các chất tiết mũi miệng, phân hay bọt nước của trẻ bệnh:
Trẻ lành tiếp xúc trực tiếp với trẻ bệnh, bị nhiễm bệnh do nuốt phải nước bọt của trẻ bệnh được văng ra trong lúc ho, hắt hơi
Do trẻ lành cầm nắm đồ chơi, sờ chạm vào sàn nhà bị dây dính nước bọt, chất tiết mũi họng của trẻ bệnh.
Ngoài ra bệnh còn lây cho trẻ qua bàn tay chăm sóc của các cô bảo mẫu.
Vi-rút xâm nhập vào cơ thể qua niêm mạc miệng hay ruột vào hệ thống hạch bạch huyết và từ đó sẽ phát triễn rất nhanh và gây ra các tổn thương ở da và niêm mạc.
Biểu hiện của bệnh
Loét miệng: là các bóng nước có đường kính 2-3 mm Thường khó thấy các bóng nước trên niêm mạc miệng vì nó vở rất nhanh tạo thành những vết loét, trẻ rất đau khi ăn, tăng tiết nước bọt
Bóng nước: từ 2-10 mm, màu xám, hình bầu dục.
Bóng nước vùng mông và gối thường xuất hiện trên nền hồng ban.
Bóng nước lòng bàn tay và lòng bàn chân có thể lồi lên trên da sờ có cảm giác cộn hay ẩn dưới da, thường ấn không đau.
Bệnh có thể biểu hiện không điển hình như: bóng nước rất ít xen kẻ với những hồng ban, một số trường hợp chỉ biểu hiện hồng ban và không có biểu hiện bóng nước hay chỉ có biểu hiện loét miệng đơn thuần.
Diễn tiến và biến chứng của bệnh chân tay miệng
Giai đoạn 1: Các trường hợp ít bóng nước thường có biến chứng
Giai đoạn 2:
Viêm màng não: trẻ cĩ biểu hiện run chi, giật mình nhưng chưa thay đổi tri giác (vẫn tỉnh, không mê).
Viêm não: vật vã, kích thích, chới với, thay đổi tri giác, yếu chi, liệt mặt
Giai đoạn 3:
Giảm chức năng co bóp thất trái trên siêu âm
Phù phế nang, sùi bọt hồng, phù phổi
Giai đoạn 4:
Hồi phục, di chứng hay tử vong
Biến chứng:
Các biến chứng thường gặp là: viêm màng não, viêm não màng não, liệt mềm cấp, viêm cơ tim, phù phổi cấp do thần kinh
Các biến chứng có thể phối hợp với nhau như: viêm não màng não, phù phổi và viêm cơ tim trên cùng 1 bệnh nhân.
Các biến chứng này thường gây tử vong cao và diễn tiến rất nhanh có thể trong 24 giờ.
Theo các nghiên cứu tại Đài loan cho thấy biến chứng nặng thường do Enterovirus 71.
Biểu hiện biến chứng viêm não, viêm màng não
Không có biểu hiện mê sâu
Biểu hiện ban đầu bằng các triệu chứng quấy khóc, ngủ nhiều, hoảng hốt hay giật mình run chi, yếu chi, đứng không vững, đi loạng chọang.
Diễn tiến rất nhanh đến co giật, khó thở, suy hô hấp, rối loạn vận mạch, sốc thần kinh.
Lưu ý: biến chứng viêm não màng não vẫn có thể xuất hiện khi các nốt phỏng nước trên da trẻ đã khô và đóng vảy.
Cần chú ý phát hiện sớm biến chứng viêm vão màng não và đưa trẻ đến bênh viện trong vòng 6 giờ đầu sau khi xuất hiện các biểu hiện của biến chứng để được cấp cứu kịp thời.
Điều trị bệnh chân tay miệng:
Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, việc điều trị bệnh chủ yếu là điều trị triệu chứng. Đưa trẻ đến khám bệnh tại các cơ sở y tế. Nếu trẻ được chỉ định chăm sóc tại nhà, cần thực hiện những điều sau đây :
Vệ sinh răng miệng và thân thể, tránh làm nhiễm trùng các bóng nước
Giảm đau, hạ sốt bằng cách lau mình bằng nước ấm, dùng thuốc hạ sốt Paracetamol.
Nghỉ ngơi hợp lý, hạn chế vận động, tăng cường dinh dưỡng, cho ăn thức ăn lỏng, mềm, uống nhiều nước nhất là nước hoa quả.
Không cạy vỡ các bóng nước để tránh nhiễm trùng.
Theo dõi sát để phát hiện các dấu hiệu: dễ giật mình, hoảng hốt, run chi, gồng tự hết, đi loạng choạng, chới với, co giật, da nổi bông, nôn ói nhiều, sốt cao. Khi có các biểu hiện trên đây cần đưa trẻ đến bệnh viện ngay.
Phòng bệnh chân tay miệng như thế nào?
Hiện nay vẫn chưa có vắc-xin phòng bệnh nên cần thực hiện tốt các biện pháp sau:
Rửa tay: thường xuyên rửa tay bằng xà phòng dưới vòi nước chảy, nhất là trước và sau khi nấu ăn, trước khi ăn và sau khi đi tiêu. Nếu có chăm sóc trẻ thì cần lưu ý rửa tay sau mỗi lần thay tả, làm vệ sinh cho trẻ.
Rửa sạch các dụng cụ, vật dụng, đồ chơi, sàn nhà bằng nước và xà phòng, rồi khử trùng bằng cloramin B 5% (có thể mua tại nhà thuốc tây).
Đeo khẩu trang mũi miệng khi hắt hơi hoặc ho.
Cách ly người bệnh tại nhà cho đến khi khỏi bệnh (thường ít nhất là 7 ngày).

Thứ Hai, 9 tháng 9, 2013

Nhà nghiên cứu ở Trường Y Harvard vừa đưa ra quy trình chẩn đoán bệnh tự kỷ nhanh gọn vì có thể được thực hiện qua mạng.

Quy trình chẩn đoán chứng tự kỷ thường rất phức tạp, chủ quan và hạn chế. Gần đây, tỷ lệ mắc bệnh này tăng lên rất nhanh nên cần những phương pháp kiểm tra và chẩn đoán vừa chính xác vừa có thể được triển khai rộng rãi.


Quy trình của TS. Dennis Wall xây dựng các thuật toán kết hợp một bộ câu hỏi nhỏ và đoạn video ngắn ở nhà về người cần kiểm tra dễ dàng được các chuyên gia đánh giá tình trạng bệnh qua internet.

Quy trình này có thể cắt giảm 95% thời gian chẩn đoán bệnh, từ nhiều giờ xuống còn vài phút, và có thể được kết hợp dễ dàng vào hoạt động hằng ngày của đứa trẻ.
Design by Hao Tran | Blogger Theme by Sức khỏe sinh sản -