Hiển thị các bài đăng có nhãn cách phòng bệnh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn cách phòng bệnh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 24 tháng 10, 2013


 

Đái dầm là chứng bệnh thông thường của trẻ em. Khoảng 15-20% trẻ em dưới 5 tuổi mắc bệnh đái dầm. Đái dầm là gì? Trẻ nào hay tè dầm? Khi đến tuổi (con gái 5 tuổi, con trai 6 tuổi) mà trẻ không kiểm soát được việc đi tiểu trong lúc ngủ là bị bệnh tè dầm. Trẻ tới 5 tuổi tè dầm liên



miên, là loại tè dầm loại 1 (Khoảng 15-20%). Trẻ từ 5-12 tuổi, có lúc đã không đái dầm được 6 tháng, rồi lại tè dầm trở lại, là loại tè dầm loại 2 (Khoảng 3-8%). Có tới 2-5% trẻ đã lớn rồi, thậm chí ở vị thành niên vẫn còn tè dầm. Bệnh tè dầm có tính di truyền. Nếu bố hay mẹ thuở nhỏ đái dầm thì 40% con cái cũng sẽ bị bệnh tè dầm. Nếu cả bố lẫn mẹ thuở nhỏ bị bệnh tè dầm thì có tới 70-75% con cái sẽ bị bệnh tè dầm. Nguyên nhân tè dầm Chưa biết được rõ ràng. Tuy nhiên, kiểm soát tiểu tiện tùy thuộc vào nhiều yếu tố, như: Khả năng phát triển bàng quang không tốt, hay bàng quang quá nhỏ, không kiểm soát được hoạt động của ống dẫn tiểu, không kiểm soát được hoạt động của bàng quang, chậm phát triển hệ thống thần kinh cũng có thể sinh ra đái dầm. Khi bàng quang đã đầy nước tiểu mà bệnh nhân vẫn chưa muốn thức giấc, sẽ đái dầm. Phụ huynh thường than phiền rằng con cái ngủ say quá nên tè dầm, nhưng thật ra tè dầm không liên quan tới giấc ngủ, mặc dầu trẻ lớn thường thức giấc kịp thời để đi tiểu nên ít bị tè dầm hơn. Trẻ em bị những chứng bệnh sau đây có thể hay tè dầm: - Tâm lý căng thẳng. - Ngủ ngáy lớn vì bị adenoids hay có cục thịt dư lớn trong họng. - Đi tiểu thường xuyên vì nhiễm trùng đường tiểu. - Đi tiểu nhiều, giảm trọng lượng (bị bệnh đái tháo đường, bệnh thận). - Đường tiểu yếu, đêm ngày đều tiểu són (bị nghẹt đường tiểu), v...v... "Tè dầm" ảnh hưởng tới tâm tính trẻ em Trẻ bị bệnh tâm lý ít khi bị tè dầm, nhưng ngược lại, đái dầm gây nhiều vấn đề tâm lý cho trẻ. Nếu trên 10 tuổi mà trẻ còn tè dầm, có thể trẻ đã bị chứng bệnh tâm lý vì không được săn sóc, bị chú ý quá mức, bị căng thẳng, buồn rầu, không thích chơi với những trẻ khác. Tâm tính trẻ sẽ trở nên bất thường, khó chịu vì cảm thấy tự mình không kiểm soát được chính mình. Điều trị bệnh tè dầm Những thuốc chữa đái dầm gồm có: - Oxybutynin chloride (Di-tropan). - Imipramine HCL (Tofranil). - Desmopressin acetate (DDAVP). Thuốc chữa tè dầm phức tạp, tùy theo những trường hợp khác nhau mà cần có toa, cần có bác sĩ theo dõi. Những phương pháp chữa tè dầm khác: Tùy theo môi trường xung quanh mà trước khi trẻ được đưa đi bác sĩ khám bệnh tè dầm, bố mẹ thường tìm cách tự giảm bệnh bằng nhiều phương pháp khác nhau như: hạn chế không cho con uống nhiều nước trước khi đi ngủ, đánh thức con dậy đi tiểu… Đôi khi bố mẹ còn hạn chế không cho con ăn chocolate, uống sữa, nước cam, hay những loại dễ làm đi tiểu như nước trà, coca cola ( G. Lackgren et al. Acta Paediatr. 88: 679, 1999). Khi trẻ đã đến tuổi đi học thì nên trải miếng nhựa trên giường, tốt hơn là bắt trẻ mặc tã. Nên để đèn đêm gần chỗ tiểu, để trẻ không ngại trở dậy đi tiểu. Nên khuyến khích trẻ Nên giúp đỡ trẻ vượt qua những lúc khó khăn, đừng trừng phạt trẻ. Không nên đổ lỗi cho trẻ, mà ngược lại nên giúp trẻ hiểu biết, có trách nhiệm, để trẻ có thể làm được những gì cần phải tự làm. (Trẻ có thể giúp bố mẹ lau rửa giường nệm hay tự tắm rửa). Nếu trẻ thức giấc, khuyên trẻ cố gắng tự đi tiểu hay đêm nào trẻ không bị đái dầm, nên khuyến khích, khen ngợi trẻ. Phương pháp này sẽ giúp trẻ tự tin lên và khỏi hẳn đái dầm (lên tới 25%) giúp trẻ thêm tiến bộ trong việc tự kiểm soát được đái dầm (khoảng 75%) (HG Ruston, J. Pediatr. 114: 691, 1989). Tập luyện bàng quang: Nhất là trong trường hợp bọng đái quá nhỏ. Tập luyện bằng cách lúc đang đi tiểu, tự ngưng lại, kéo dài đường tiểu. Cũng có thể uống nhiều nước vào ban ngày. Dụng cụ báo động lúc tè dầm: Có lẽ đây là phương pháp hiệu quả nhất để chữa bệnh đái dầm. Dụng cụ nối với đồng hồ báo thức được gài vào trong quần của trẻ. Khi đái dầm, nước tiểu trong quần có độ ẩm báo hiệu, đồng hồ reo vang, đánh thức trẻ dậy đi tiểu. Thường thì phải cần tới 3 tuần lễ mới có kết quả tốt. Đôi khi, có thể kết hợp như: vừa dùng thuốc, vừa dùng đồng hồ báo thức, cũng có kết quả tốt. Sau hết, trong trường hợp trẻ đi cắm trại, hay ngủ lại nhà bạn, nên mang theo tã (cho dù không thường dùng tã ở nhà), hoặc dùng thuốc Desmopressin acetate, nhưng phải được bác sĩ chỉ dẫn. TS. BS. TRẦN MẠNH NGÔ (Hoa Kỳ)

 

NGUYỄN PHƯƠNG ĐÀN Theo Phòng trị những bệnh thường gặp của trẻ em Có mấy cách phòng bệnh: 1. Tập thành thói quen đi đại tiện đúng giờ. Có thể hàng ngày vào một giờ nhất định, cho trẻ ngồi vào bô đại tiện, những ngày đầu chưa quen, trẻ không đại tiện được cũng không sao,


cứ kiên trì, đúng giờ cho cháu ngồi vào bô như vậy (khoảng 10-15 phút), nói chung cứ một vài tuần sau là có thể tạo thành phản xạ đi ngoài. 2. Cải thiện các thức ăn uống cho trẻ, ăn nhiều các thức ăn giùa xenluylo như rau hẹ, rau cần, các loại rau xanh, kết hợp cho ăn cam, bưởi, uống nước đun sôi để ấm. 3. Cho trẻ hoạt động nhiều ngoài nhà. 4. Tích cực chữa trị các bệnh dẫn tới táo bón của trẻ. Cách chăm sóc chữa trị trong gia đình: 1. Lấy xà phòng nặn thành thỏi tròn nhét vào hậu môn trẻ, phương pháp đơn giản, hiệu quả tốt. 2. Bôi dầu bôi trơn vào cái cặp nhiệt độ xong cắm vào hậu môn trẻ, cầm đầu ngoài ngoáy ngoáy nhẹ để kích thích ruột, cũng dễ làm cho trẻ đại tiện được. 3. Chữa trị bằng ăn: a. Khi trẻ bí đại tiện, cho ăn hai quả chuối tiêu, có thể nhuận tràng, thông tiện. b. Dầu vừng trộn với rau chân vịt luộc, mổi lần ăn ba lạng. c. Lấy táo tàu (loại táo đen bán ở hiệu thuốc bắc) hầm nhừ, ăn cả nước lẫn cái (bỏ hạt). 4. Xoa bóp: Cho trẻ nằm ngửa trên giường, người thao tác dùng phần gốc bàn tay phải của mình áp sát vào cơ bụng trẻ, từ bụng trên bên chân phải xoa xoay sang bụng trên bên trái rồi xuống đến bụng dưới bên trái xong lại xoa xoay sang bụng dưới bên phải, cứ xoa xoay, day đẩy như vậy. Sau lại tiến hành xoa xoay, day đẩy theo chiều tuần tự ngược trở lại như vậy, động tác xoa xoay, day đẩy này không nên làm nặng quá, mỗi lần xoa như thế trong 10 phút, mỗi ngày xoa như thế 2-3 lần, cho mãi đến khi nào trễ thông đại tiện được rồi, cũng vẫn nên tiếp tục xoa bóp như thế 1-2 tuần tư để cũng cố hiệu quả chữa trị. Day xoa bụng như thế sẽ thúc đẩy tuần hoàn huyết dịch ở vùng dạ dày và bụng, tăng thêm nhu động của ruột, không những có thể làm thông thoát đại tiện mà lại còn tăng thêm thèm ăn, ăn ngon miệng của trẻ nữa.


Nhiễm trùng tiểu là một bệnh rất thường gặp ở trẻ em, đặc biệt là trẻ gái nhưng lại dễ bị bỏ sót vì triệu chứng thường rất mơ hồ. Đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng gây sốt kéo dài. Nếu không được điều trị thích hợp, bệnh có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm



như nhiễm trùng huyết, suy thận, cao huyết áp. Bệnh hay gặp ở trẻ gái hơn trẻ trai vì đường tiểu ở nữ ngắn, vi khuẩn dễ dàng từ ngoài đi ngược dòng niệu đạo lên bàng quang gây viêm bàng quang, rồi từ bàng quang theo niệu quản lên thận gây viêm đài bể thận. Nhiễm trùng vùng âm hộ ở nữ cũng dễ dẫn đến nhiễm trùng tiểu vì lỗ tiểu và cưa âm hộ ở kế bên nhau. Người ta thường thấy hai bệnh này đi cùng với nhau ở những bé gái hay ngồi lê la dưới đất mà không được mặc quần bảo vệ hay vải quần quá mỏng. Ngoài ra, các bà mẹ khi làm vệ sinh cho con gái thường hay có thói quen lau chùi từ dưới lên trên (khi trẻ ớ tư thế nằm) tức là từ phía sau ra phía trước. Chính động tác này đã vô tình đem vi khuẩn từ hậu môn ra lỗ tiểu và lỗ âm hộ. Do đó. đa số các nhiễm trùng tiểu đều do vi khuẩn. co li có rất nhiều trong phân gây ra. Ngoài ra, bệnh còn do Proteus, Klebsiella... cũng có trong phân. ơ những trẻ bị lãi kim không được điều trị, chính lãi kim là tác nhân đem vi khuẩn từ hậu môn ra phía trước. Đặc biệt, dễ mắc nhiễm trùng tiểu là những trẻ có điều bất thường ở hệ niệu như tắc nghẽn đường tiểu (ví dụ: van niệu đạo sau), bị trào ngược bàng quang - niệu quản, có sỏi niệu hoặc những trẻ được làm thủ thuật niệu khoa như đặt ống thông tiểu, soi bàng quang... Các triệu chứng thường mơ hồ và thay đổi theo lứa tuổi: Ở sơ sinh: có thể nóng sốt hoặc ngược lại chỉ là hạ thân nhiệt (dưới 36 độ C) trẻ bú kém, ói mửa, tiêu chảy hoặc đơn thuần là vàng da kéo dài. Trẻ nhỏ dưới 2 - 3 tuổi: sốt kéo dài không rõ nguyên nhân, biếng ăn hoặc chỉ đơn thuần là không tăng cân. Trẻ lớn: có các triệu chứng điển hình như tiểu gắt buốt, tiểu đau, tiểu đục, tiểu lắt nhắt, đái dầm trong nhiễm trùng đường tiểu dướI (còn gọi là viêm bàng quang) hay sốt cao, đau hông lưng, đau bụng trong nhiễm trùng đường tiểu trên (còn gọi là viêm đài bể thận). Nếu bị viêm đài bể thận mãn, trẻ thường không có triệu chứng, chỉ bị cao huyết áp khi có sẹo ở thận (do các ổ áp xe khi lành để lại). Việc chẩn đoán nhiễm trùng tiểu chỉ chắc chắn khi xét nghiệm cấy nước tiểu thấy có vi khuẩn gây bệnh. Bạch cầu cũng có thể hiện diện trong nước tiểu. Để điều trị, đối với nhiễm trùng tiểu dưới, chỉ cần một loại kháng sinh uống trong 10 - 14 ngày như amoxicillin, ampicillin, bactrim, nitrofurantoin... Đối với nhiễm trùng tiểu trên, phải kết hợp hai loạI kháng sinh bằng đường tiêm như cephalosporin cộng với gentanlycin. Vì việc điều trị khá dài ngày và đôi khi tốn kém, nên tốt nhất là phòng ngừa không cho trẻ lê la dưới đất. Vệ sinh tốt vừng âm hộ, rửa sạch đít cho trẻ sau mỗi lần đi tiêu. Dù rửa hay lau cũng phải tuân theo nguyên tắc: luôn luôn đi từ phía trước (lỗ tiểu và âm hộ) ra phía sau tới lỗ hậu môn. Tuyệt đối không kéo tới kéo lui mà chỉ một chiều từ trước ra sau, rồi lạI từ trước ra sau cho đến khi sạch hẳn. Mặc quần cho trẻ, dù là gái hay trai (ta thường hay cho trẻ ở truồng để đỡ thay quần, quần bé trai thường lại có loại để trống đít cho trẻ tiện đi tiêu). Vai quần nên tránh loại ny lon vì nóng và bí hơi, mà chọn thứ thấm hút tốt, thoáng mát và mềm mại như vải sợi. Xổ lãi định kỳ cho trẻ để diệt lãi kim. Cho uống nhiều nước để trẻ tiểu nhiều. Nước tiểu sẽ tống xuất vi khuẩn ở thành niệu đạo đang đi ngược lên bàng quang. Không có nước tiểu cũ bị ứ đọng thường xuyên trong bàng quang nên không có điều kiện để vi khuẩn trú ngu lâu. Nhìn màu nước tiểu,thấy vàng sậm và nóng là dấu hiệu lượng nước tiểu ít và ở lâu trong bàng quang. Cho trẻ ăn trái cây hay uống vitamin C. Khi đó nước tiểu bị acid hóa sẽ là điều kiện bất lợi cho vi khuẩn gây bệnh.

Thứ Hai, 14 tháng 10, 2013

Khi bị ốm, sự mệt mỏi và quấy khóc của bé thường làm bạn mệt mỏi và bối rối. Sự chăm sóc của bạn đôi khi làm bé khó chịu hơn... Bạn tự hỏi mình phải làm gì đây?


Bé đang sốt cao có nên đưa cháu tới bác sĩ không?
Dù bé sốt cao, cũng vẫn có thể đưa đi được vì chỉ ở phòng khám bệnh, bác sĩ mới có nhiều phương tiện để khám bệnh cho cháu.
Có cần chăn mền cho cháu không?
Nếu cháu đang sốt, không nên đắp thêm chăn vì như thế sẽ làm thân nhiệt tăng thêm. Giữ nhiệt độ phòng từ 20oC -  22oC không để gió lùa, ở điều kiện như vậy cháu chỉ cần mặc một bộ quần áo ngủ, rộng, thoáng là đủ.
Cần săn sóc thế nào cho bé dễ chịu?
Căn phòng cần thoáng và đủ ấm.
Nếu lâu không mở cửa sổ, hãy chuyển cháu bé sang phòng khác một lát, trong khi làm vệ sinh: quét nhà, thay vải trải giường... Sau đó đóng cửa lại nếu cần để tránh gió, rồi lại chuyển cháu về.
Hàng ngày, vẫn lau mặt, cổ, rửa tay, chân cho cháu như bình thường.
Bạn có thể tắm cho cháu nhưng chú ý pha nước ở nhiệt độ 37 độ C và phòng tắm phải kín, không có gió.
Trong suốt thời gian bị ốm, cháu bé nào cũng muốn có bố hoặc mẹ, ông, bà... ở bên cạnh. Việc này làm cho bé thấy yên tâm và an ủi bé rất nhiều, mỗi khi bé bị khó chịu. Nếu nguời lớn không có điều kiện ở gần bé, có thể cho bé đồ chơi, sách có hình vẽ mầu để bé giải trí.
Không nên để bé nhận thấy nét mặt lo lắng, u sầu của người lớn về tình hình của bé.
Cần làm gì khi bé ra nhiều mồ hôi?
Nếu bé sốt và người đổ mồ hôi, thế là tốt. Vì đó là phản ứng của cơ thể để làm thân nhiệt hạ xuống. Nên lau khô mồ hôi và thay quần áo cho bé.
Có cần bắt bé nằm tại giường không?
Nếu bé thấy người mệt, bé sẽ tự động nằm nghỉ. Nhưng nếu bé không muốn nằm, thì không nên bắt buộc. Cứ để bé ngồi dậy hoặc đi lại trong phòng, đi tất cho cháu.
Đối với các cháu bị bệnh cần phải chữa trị lâu hoặc đang trong thời gian phục hồi sức khỏe, cứ để cháu chơi bình thường. Chỉ nên tránh những trò chơi làm cháu bị kích động và không cho chơi với trẻ khác để tránh sự lây nhiễm.
Chế độ ăn của trẻ bị bệnh như thế nào?
Với trẻ sơ sinh, nếu cháu không bị đi tướt có thể cho ăn như bình thường: không nên ép cháu ăn và chú ý cho cháu uống nước thêm. Nếu bé bị đi tướt, thì ngưng cho bú sữa và cho ăn theo chế độ riêng.
Với trẻ đã lớn, có thể cho ăn súp, nước rau, chuối nghiền, bánh mì nướng 2 lần, bánh bích quy. Nếu cháu có dấu hiệu khỏi bệnh, dần dần trở lại chế độ ăn bình thường.
Chú ý: Không nên ép buộc các cháu ăn
Nếu bé bị sốt, hãy cho cháu uống nhiều nước ban ngày cũng như ban đêm, vì sốt làm cơ thể các cháu thiếu nước, để cháu dễ uống, ngoài nước trắng có thể cho bé uống nước cam, nước chanh, nước súp, nước rau, nước đường v.v...
Thường các cháu thích uống nước mát hơn là nước nóng. Hãy cho các cháu uống nước mát - nhất là các cháu hay bị nôn ói. Nếu các cháu không chịu ăn thì các loại nước đường, súp, mật ong, nước cơm... cũng có thể cung cấp cho các cháu một ít calo.
Giờ giấc săn sóc như thế nào?
Nên tự quy định giờ giấc, thí dụ vào buổi sáng và 5 giờ chiều bạn sẽ đo nhiệt độ cho cháu, lau rửa mặt, ngoáy lỗ mũi, cho uống thuốc hay bôi thuốc. Việc săn sóc có giờ giấc như vậy đỡ làm cháu bị mệt hơn là phải điều trị lan man cả ngày.
Sau khi săn sóc cháu, bạn nên ghi thân nhiệt đo được lúc sáng, lúc chiều vào giấy cùng với các hiện tượng (nếu có) như: nôn ói, đi tướt, ho... để chuẩn bị nói lại cho bác sĩ biết, khi bác sĩ tới thăm, hoặc nói qua điện thoại.
Nếu bé mắc bệnh có thể lây lan, phải cách ly bé với các trẻ khác, kể cả người lớn đang mang bầu.
Chú ý: Không được để thuốc trong tầm tay của trẻ. Nhiều người để thuốc điều trị bệnh cho các cháu ở gần chỗ các cháu nằm, để tiện sử dụng. Như vậy rất nguy hiểm, nhất là đối với các cháu đang trong tuổi thấy cái gì lạ cũng cho vào miệng.
Thuốc điều trị cũng phải uống đúng liều lượng và đúng lúc.
Các cháu nhỏ thường dễ bị mầu sắc viên thuốc, hoặc vị ngọt của thuốc hấp dẫn.

Thứ Năm, 10 tháng 10, 2013

Tiếng thở khò khè, ho khan hay sâu của trẻ ẩn chứa nhiều thông điệp sức khỏe khác nhau. Khi mà bé không thể tự nói đau ở đâu, vấn đề của cha mẹ là phân biệt các chứng bệnh liên quan để có cách tự xử lý hoặc cấp cứu.


 
 Bé bị ho sẽ rất mệt mỏi
Ho thực chất là một cách tự vệ của cơ thể tự vệ, theo giải thích của Giám đốc trung tâm các bệnh truyền nhiễm ở trẻ Nassau County (Mỹ) Howard Balbi. Ho là cách cơ thể làm thông đường hô hấp, tống đờm dãi hoặc thức ăn mắc lại trong cổ họng ra ngoài, không cho nước mũi chảy ngược vào cổ họng. Có hai kiểu ho cho mục đích này:
Ho khan: xảy ra khi bé bị lạnh hoặc dị ứng. Kiểu ho này giúp dọn sạch dịch mũi và sự khó chịu từ cổ họng sưng.
- Ho sâu: bắt nguồn từ một bệnh hô hấp nào đó kèm với sự nhiễm khuẩn. Ho thường đi kèm theo đờm hoặc dịch mũi (chứa cả tế bào bạch huyết chống khuẩn hình thành trong đường thở của trẻ).
Trẻ dưới 4 tháng không ho nhiều, cho nên nếu bé ho thì cần chú ý. Vào mùa đông, khi trẻ ho kinh khủng, nguyên nhân có thể là do virus hô hấp hợp bào (RSV) nguy hiểm. Nếu trẻ dưới 1 tuổi thì chuyện ho ít đáng báo động vì nguyên nhân chủ yếu là do lạnh.
Để giúp bạn phân biệt kiểu ho nào cần theo dõi và kiểu cần xử lý khẩn cấp, trước tiên là cần bình tĩnh, lắng nghe âm thanh cẩn thận và xem xét các chỉ dẫn dưới đây:
Cảm lạnh thường hay cúm?
Những dấu hiệu cho thấy tiếng ho của trẻ là do cảm lạnh gồm:
* Nghẹt và chảy nước mũi
* Sưng họng

- Âm thanh nghe khô khan
- Các triệu chứng khác: tuỳ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của cảm lạnh, trẻ có thể có:
* Nước nhầy rớt 
* Sốt nhẹ về đêm

Cách trị: cho trẻ uống nhiều nước và nghỉ ngơi. Có thể dùng máy làm ẩm khí để giúp bé dễ thở hơn. Cho dù bạn nóng lòng muốn trẻ bớt ho, nên hỏi bác sĩ trước khi dùng:
* Thuốc ho long đờm 
* Thuốc làm thông mũi (Decongestant) 
* Thuốc ho (không nên dùng trừ phi trẻ ho nhiều làm mất ngủ ban đêm). 
* Acetaminophen (để giảm sốt)

Nếu thân nhiệt của trẻ từ 37 độ C trở lên và trông mệt mỏi, nên gọi ngay bác sĩ vì nhiều khả năng bé bị cúm. Nếu trẻ dưới 4 tháng tuổi, gọi bác sĩ ngay nếu sốt. Thậm chí sốt nhẹ cũng nghiêm trọng đối với trẻ sơ sinh.
Bệnh bạch hầu thanh quản
Bạn sẽ biết ngay bé bị bạch cầu thanh quản khi thấy con thức dậy nửa đêm và ho sâu, khó thở. Bệnh bạch cầu thanh quản thường ảnh hưởng tới trẻ dưới 5 tuổi và bắt đầu bằng hiện tượng cảm lạnh hoặc sổ mũi sáng sớm.
- Âm thanh giống như ho sâu
Các triệu chứng khác: thường là do nhiễm virus. Bệnh bạch cầu thanh quản làm cho niêm mạc khí quản sưng lên và nghẹt đường thở - đó là nguyên nhân vì sao trẻ khó thở. Bạn sẽ nghe thấy tiếng ho đặc kín khi trẻ hít thở vào (không phải lúc thở ra).
Cách trị: trước tiên cần làm cho bé bình tâm, sau đó thử áp dụng một trong các cách sau đây để giúp bé dễ thở:
* Mở vòi hoa sen, đóng cửa nhà tắm và cho bé thở trong không khí đầy hơi nước. 
* Nếu là nửa đêm, đưa bé ra ngoài, không khí ẩm sẽ làm cho con dễ thở hơn. 
* Cho trẻ thở không khí từ máy làm ẩm khí
* Bệch bạch cầu thanh quản sẽ hết trong khoảng 3-4 ngày, nếu không đỡ thì cần gọi bác sĩ.
Viêm phổi
Bệnh viêm phổi xảy ra khi phổi bị nhiễm khuẩn hoặc virus do một số bệnh mang lại, kể cả cảm lạnh thường.
- Tiếng ho nghe sâu và có đờm
- Các triệu chứng khác: trẻ rất mệt và dễ ho, nhìn mọi thứ đều có sắc xanh và vàng.
Cách trị: phụ thuộc vào nguyên nhân là virus hay vi khuẩn, hãy gọi cho bác sĩ nếu bé bị sốt. Viêm phổi do vi khuẩn thường nguy hiểm hơn và thủ phạm thường là khuẩn strep pneumonae.

Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2013

Tỷ lệ trẻ mắc các bệnh do virus tăng trong mấy năm gần đây, hay xuất hiện khi thời tiết đổi mùa. Trong điều kiện bình thường cũng có những virus ký sinh trên đường hô hấp, tiêu hóa, chờ thời cơ để gây bệnh.


 Các loại virus hay gây sốt gồm Myxo virus, Coxackie, Entero, sởi, thủy đậu, viêm não Nhật Bản... Virus có thể lây từ người này sang người khác, đặc biệt là qua đường hô hấp, tiêu hóa... và gây thành dịch. Một trong các triệu chứng nổi bật của tình trạng nhiễm virus là sốt cao, thường là 38-39 độ C, thậm chí 40-41 độ C. Trong cơn sốt, trẻ thường mệt mỏi và ít đáp ứng với các loại thuốc hạ sốt thông thường như paracetamol. Khi hạ sốt, trẻ lại tỉnh táo, chơi bình thường. Các biểu hiện khác gồm đau mình mẩy (trẻ lớn đau cơ bắp, thường kêu đau khắp mình, trẻ nhỏ quấy khóc) đau đầu (có thể vẫn tỉnh táo, không kích thích, vật vã), viêm long đường hô hấp (ho, chảy nước mũi, hắt hơi, họng có thể đỏ). Rối loạn tiêu hóa: thường xuất hiện sớm nếu nguyên nhân gây sốt là virus đường tiêu hóa, cũng có thể xuất hiện muộn hơn vài ngày sau khi sốt với đặc điểm là phân lỏng, có chất nhầy, không có máu. Trẻ có thể viêm hạch, đặc biệt là các hạch ở vùng đầu, mặt, cổ thường sưng to, đau, có thể nhìn hoặc sờ thấy. Phát ban thường xuất hiện sau 2-3 ngày kể từ khi sốt, khi xuất hiện ban thì sẽ giảm sốt. Ngoài ra, trẻ có thể bị viêm kết mạc mắt, nôn. Thông thường, các triệu chứng nêu trên xuất hiện rất rầm rộ; sau 3-5 ngày sẽ giảm dần và mất đi, trẻ trở lại khỏe mạnh. Sốt virus chưa có thuốc đặc hiệu, chủ yếu là điều trị triệu chứng. Để hạ sốt, thường dùng paracetamol liều 10 mg/kg, 6 giờ một lần. Chườm trán cho trẻ bằng khăn mát, lau khô mồ hôi, lau người bằng nước ấm, để trẻ nằm nơi thoáng mát, mặc quần áo mỏng. Nếu trẻ sốt cao trên 38,5 độ C thì nên dùng thuốc hạ sốt kèm theo thuốc chống co giật theo chỉ định của bác sĩ, đặc biệt là những trẻ có tiền sử co giật khi sốt cao. Sốt cao có thể gây ra tình trạng mất nước, rối loạn cân bằng điện giải trong cơ thể. Nên dùng các thuốc có tác dụng bù nước và chất điện giải mất qua da do sốt như oresol, cháo muối nấu loãng. Vệ sinh sạch sẽ cho trẻ, nhỏ mắt, mũi bằng natriclorit 0,9%, tránh bội nhiễm vi khuẩn đường hô hấp. Cho trẻ ăn lỏng, dễ tiêu, giàu chất dinh dưỡng. Vệ sinh cơ thể cho trẻ sạch sẽ, tắm bằng nước ấm trong phòng kín. Phải đưa trẻ đến khám ngay tại trung tâm y tế khi có các dấu hiệu sau: - Sốt cao trên 38,5 độ C, đặc biệt là trên 39 độ C mà dùng thuốc hạ sốt không hiệu quả. -Lơ mơ, li bì, ngủ nhiều, xuất hiện co giật, đau đầu liên tục, tăng dần, buồn nôn, nôn khan nhiều lần, sốt kéo dài trên 5 ngày. ThS Đỗ Vinh Hoa, Sức Khỏe & Đời Sống  

Thứ Năm, 3 tháng 10, 2013

Đó là giai đoạn từ ngày thứ 3 đến thứ 6 của bệnh. Trẻ có thể trở nặng và sốc, dẫn đến tử vong nhanh nếu không được phát hiện kịp thời.



 Điều này đặc biệt nguy hiểm đối với các trường hợp điều trị tại nhà. Các bác sĩ chuyên khoa cho biết, khi trẻ được cho điều trị tại nhà, các bậc phụ huynh thường lơ là mất cảnh giác, không theo dõi sát sao diễn biến của bệnh nên một số trường hợp đáng tiếc đã xảy ra. Bác sĩ Nguyễn Thanh Hùng Trưởng khoa sốt xuất huyết Bệnh viện Nhi đồng 1 khuyến cáo: khi trẻ hết sốt mà có một trong các triệu chứng như: ói mửa nhiều, đau bụng, tay chân lạnh, bứt rứt, tím tái, vã mồ hôi, chảy máu mũi, chảy máu chân răng, nôn và đi tiêu ra máu... thì phải được đưa đến bệnh viện cấp cứu ngay, vì đây là những dấu hiệu trở nặng. Đến nay, sốt xuất huyết vẫn là bệnh rất dễ dẫn đến tử vong do trụy tim mạch, xuất huyết ồ ạt nếu không được phát hiện sớm và điều trị đúng. Việc điều trị quá trễ sẽ gây ra những biến chứng rất nguy hiểm như xuất huyết, nôn ra máu, tràn dịch màng phổi, tràn dịch màng tim, gây các biến chứng về mắt có thể làm cho bệnh nhân mù mắt đột ngột, nguy hiểm hơn là sốt xuất huyết có thể làm viêm cơ tim. So với trước đây, việc điều trị sốt xuất huyết hiện nay vẫn không có tiến bộ đáng kể nào; ngoài việc đã có phát đồ điều trị bệnh sốt xuất huyết cho người lớn; dịch truyền tốt hơn và lượng dịch truyền được tính toán chính xác hơn cho người lớn và trẻ em. Do đó, các chuyên gia khuyến cáo, khi phát hiện có dấu hiệu nghi ngờ bị mắc sốt xuất huyết, phải lập tức đến cơ sở y tế; vì chỉ có bác sĩ chuyên khoa mới có thể xác định đó có phải là dấu hiệu của bệnh sốt xuất huyết hay không và quyết định cách điều trị thích hợp. Tuyệt đối không nên tự ý uống kháng sinh, giác lễ, cạo gió bằng phương pháp dân gian vì sẽ gây nhiễm trùng. Những dấu hiệu ban đầu có thể nghi ngờ bị nhiễm sốt xuất huyết bao gồm: sốt cao 39-40 độ C kéo dài trên 2 ngày, người lừ đừ, chảy máu cam, chảy máu chân răng không rõ lý do, trên da xuất hiện những chấm đỏ hay vết bầm. Sốt đến ngày thứ 3 thì bị nôn ra chất có màu nâu đen như váng cà phê, hay nôn ra máu mặc dù rất ít. Các thống kê mới nhất cho thấy dịch sốt xuất huyết ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long đã tạm thời được khống chế. Ở TP.HCM, theo ông Nguyên Đắc Thọ, Phó giám đốc Trung tâm y tế dự phòng, cho đến thời điểm này vẫn có thể kết luận là dịch sốt xuất huyết chưa bùng phát. Tuy nhiên, tại một số bệnh viện, số bệnh nhân điều trị nội trú và nhập viện đã bắt đầu tăng. Cụ thể, tại quận Bình Thạnh (một địa bàn "nóng" về sốt xuất huyết của TP.HCM), từ đầu tháng 7 đến nay mỗi ngày có khoảng 2-3 ca sốt xuất huyết được đưa vào Bệnh viện nhân dân Gia Định, trong khi 2 tháng trước chỉ có tổng cộng 40 người. Nếu so với các năm 2002- 2003, tỷ lệ mắc sốt xuất huyết ở Bình Thạnh hiện đã tăng 2-3 lần. Bác sĩ Văn Bích, Trưởng khoa Nhi Bệnh viện nhân dân Gia Định tiên đoán, nếu tình hình dịch bệnh vẫn tiến triển như hiện nay thì số ca mắc bệnh ở quận này chắc chắn sẽ tương đương năm 2004 - năm đỉnh cao của chu kỳ sốt xuất huyết - hoặc hơn chứ không giảm. Tại 2 bệnh viện Nhi đồng, từ đầu tháng 7 đến nay, số bệnh nhi sốt xuất huyết nhập viện cũng tăng đáng kể. Bệnh viện Nhi đồng 1 mỗi ngày có khoảng 40 ca điều trị nội trú, nhiều trường hợp nặng. 

Thứ Tư, 2 tháng 10, 2013

Năm nay, dù đang ở thời điểm mùa khô nhưng bệnh sốt xuất huyết (SXH) vẫn diễn ra đều đặn và có chiều hướng gia tăng. Hiện tại, khoa Sốt xuất huyết của Bệnh viện nhi đồng I (TP.HCM) có 49 bệnh nhi mắc bệnh SXH đang điều trị, trong đó có 22 trẻ bệnh ở mức độ nặng (độ III). Từ đầu năm đến nay, tại TP.HCM đã có hơn 1.200 người mắc bệnh SXH. 



Trước hiện tượng này, bác sĩ Phan Văn Nghiệm - Trưởng phòng nghiệp vụ y (Sở Y tế TP.HCM) cho biết:

- Đặc trưng của bệnh SXH là xảy ra nhiều vào mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 10 hằng năm), khi mật độ lăng quăng, muỗi tăng cao. Tuy nhiên, hiện "quy luật" đó đã bị phá vỡ. Do có sự thay đổi về cơ cấu bệnh tật, do môi trường... bệnh SXH có thể diễn ra rải rác quanh năm, kể cả mùa khô. Bằng chứng là từ đầu năm đến nay, các bệnh viện tại TP.HCM tiếp nhận nhiều trường hợp mắc bệnh SXH tại TP.HCM và các tỉnh lân cận chuyển đến. Ngoài ra, hiện nay còn có sự thay đổi nữa là bệnh SXH không chỉ "tập trung" ở trẻ em mà nguời lớn mắc phải cũng rất nhiều. TP.HCM là một trong những địa phương có số người mắc bệnh SXH cao do mật độ lăng quăng, muỗi cao, trong đó có nguyên nhân do các công trình xây dựng dở dang, gây ứ đọng nước, tạo điều kiện cho lăng quăng phát triển...
* Những biểu hiện để nhận biết và phòng bệnh SXH?
- Bác sĩ Phan Văn Nghiệm: Dấu hiệu để nhận biết trẻ bị SXH đó là: trẻ sốt cao, sốt liên tục 2 - 3 ngày, uống thuốc hạ sốt vài giờ sau vẫn bị sốt trở lại, trẻ vật vã, bứt rứt, đau đầu, đau bụng, xuất huyết ngoài da, chảy máu cam, có thể nôn ói ra máu... Đặc biệt, cần lưu ý, trong những ngày thứ 3 đến ngày thứ 6 sau khi mắc bệnh, trẻ thường hết sốt, người lớn nhầm tưởng bệnh đã lui, nhưng lúc này dễ xảy ra nguy kịch cho trẻ (sốc, trụy mạch dẫn đến tử vong). Tay, chân lạnh là dấu hiệu để nhận biết trước khi trẻ bị sốc. Hiện nay, chưa có thuốc đặc trị bệnh SXH mà chỉ điều trị triệu chứng, biến chứng.
Đối với bệnh SXH (bệnh do muỗi đốt gây nên), việc phòng bệnh là rất quan trọng. Nếu người dân ý thức tốt việc phòng bệnh, không để lăng quăng, muỗi có "đất" sống thì sẽ tránh được bệnh. Cần dọn dẹp môi trường chung quanh, lưu ý các chậu hoa, bình, lu, bể... là điều kiện phát sinh lăng quăng, muỗi. Những nơi có nhiều muỗi cần cho trẻ ngủ mùng, kể cả ban ngày. Khi trẻ có dấu hiệu mắc bệnh, nhất là sốt cao cần đưa đến cơ sở y tế gần nhất để được xử lý, không để trẻ sốt cao lâu, co giật gây tác hại cho trẻ...

Thứ Ba, 1 tháng 10, 2013

Bệnh sởi là một bệnh nhiễm virus cấp tính ở trẻ nhỏ với hai dấu hiệu chính là: sốt cao, nốt ban đỏ khắp cơ thể và có ít nhất một trong những dấu hiệu sau đây:

- Ho
- Chảy nước mũi
- Miệng đỏ và đau, có nốt ban trắng ở niêm mạc miệng (hạt koplik)
- Mắt đỏ

Sau 8-12 ngày bị nhiễm virus, xuất hiện các dấu hiệu đầu tiên. Các dấu hiện bệnh xuất hiện tuần tự như sau: sốt cao, ho, mắt đỏ và có các nốt trắng ở miệng. Các dấu hiệu trên xuất hiện 3-4 ngày thì nốt ban đỏ xuất hiện, thường bắt đầu từ sau tai và trước trán, sau đó lan khắp cơ thể.
Ban đỏ xuất hiện sau 1-2 ngày thì nốt trắng ở miệng biến mất. Sốt thuyên giảm sau 3-4 ngày có ban đỏ và ban biến mất sau 5-6 ngày, để lại trên da những vết tím trong một thời gian. Trong giai đoạn phục hồi, da thường đóng vẩy. Thời gian phục hồi có thể kéo dài hàng tháng. Trong thời kỳ này trẻ dễ dàng bị mắc các bệnh nhiễm khuẩn khác và sức đề kháng của cơ thể giảm.
Bước xử trí đầu tiên sau khi chẩn đoán sởi là phân loại xem trẻ mắc sởi thể nhẹ (không có biến chứng) hay thể nặng (có biến chứng).
Hỏi bà mẹ để biết trẻ có các dấu hiệu sau đây hay không: ho, thở nhanh, khó thở, thở rít (thì hít vào), co giật, ngủ li bì, tai chảy dịch, tiêu chảy, nôn, bú kém hoặc bỏ bú.
Thầy thuốc khám (quan sát và lắng nghe) để tìm các dấu hiệu sau đây: thở nhanh, rút lõm lồng ngực, mất nước, suy dinh dưỡng nặng, tổn thương giác mạc mắt, màng nhĩ đỏ, tai chảy dịch, loét niêm mạc.
Sởi nặng thường xảy ra ở những trẻ chưa được tiêm chủng và bị:
- Thiếu vitamin A.
- Sống ở nơi đông đúc.
- Dưới 1 tuổi.
- Suy dinh dưỡng nặng.
- Suy giảm miễn dịch (nhiễm HIV hoặc mắc AIDS).
- Bị lây sởi từ người khác trong nhà.
Xử trí trẻ bị sởi nhẹ
Trẻ bị sởi nhẹ là chưa có biến chứng và có thể điều trị tại nhà.
Nuôi dưỡng: Cần tích cực động viên trẻ ăn và uống. Nếu trẻ còn bú mẹ, cần tiếp tục cho bú. Đối với những trẻ ăn sam, cần tăng cường thức ăn giàu năng lượng. Cho trẻ ăn từng ít một và tăng thêm một số thức ăn. Thức ăn nên nấu mềm, dễ ăn. Cho trẻ uống nhiều nước, nhất là các loại nước hoa quả tươi để bổ sung vitamin. Cho trẻ uống một viên nang vitamin A (trẻ trên 1 tuổi uống loại viên 200.000 đv, dưới 1 tuổi cho uống 100.000 đv). Đưa cho bà mẹ viên thứ hai và dặn cho trẻ uống vào ngày hôm sau.
Nếu trẻ sốt (từ 39oC trở lên), hoặc quấy khóc vật vã nhiều, hướng dẫn bà mẹ cho trẻ dùng paracetamol. Nếu trẻ bị sốt (nhưng không có thở nhanh), có thể cho dùng thuốc hạ sốt đông y, ví dụ như chanh hấp mật ong. Nếu trẻ bị tắc mũi, có thể nhỏ mũi bằng nước muối sinh lý. Nhỏ nước muối sinh lý vào một mảnh vải bông sạch mềm. Cuộn mảnh vải thành hình sâu kèn, rồi đặt nhẹ nhàng vào lỗ mũi trẻ.
Giữ gìn vệ sinh răng miệng cho trẻ bằng cách thường xuyên dùng gạc sạch lau rửa miệng bằng nước sạch pha một ít muối hoặc nếu có vết loét thì chấm thuốc tím 1%. Lau mắt cho trẻ hằng ngày bằng vải bông sạch thấm với nước sạch. Nhỏ mắt bằng thuốc nhỏ mắt chloramphenicol 0,4%.
Nếu bệnh tình không đỡ, trẻ ốm nặng hơn, có dấu hiệu của biến chứng, trẻ không ăn, trẻ nhỏ bỏ bú, bị đau tai, niêm mạc miệng bị loét nặng, cần đưa trẻ đến các cơ sở y tế để được can thiệp kịp thời. Đối với các cháu đã khỏi vẫn cần được theo dõi cẩn thận và thường xuyên đưa đến y tế kiểm tra để kịp thời phát hiện các bệnh nhiễm khuẩn khác hay mắc sau sởi.
Xử trí trẻ bị sởi nặng
Tất cả các trẻ bị sởi nặng cần được điều trị tại bệnh viện. Về cơ bản cũng điều trị giống như sởi nhẹ. Ngoài ra cần phải điều trị các biến chứng và các bệnh nhiễm khuẩn kèm theo như viêm phổi, viêm thanh quản, viêm khí quản do vi khuẩn, tiêu chảy, tổn thương giác mạc, viêm tai cấp, suy dinh dưỡng, có nguy cơ bị mù, viêm não mất nước...
Trẻ bị biến chứng sởi nặng thường có các dấu hiệu: ho kèm thở nhanh, thở rít (thì hít vào), mất nước, phân có máu, cân nặng thấp, có những sẩn trắng hoặc vết loét ở giác mạc, ngủ li bì hoặc co giật.
Ngày nay, nhờ thành quả tiêm chủng mở rộng, trong nhiều năm qua số trẻ bị mắc sởi đã giảm hẳn. Các thể bệnh nặng và biến chứng hầu như rất hiếm gặp.
Để phòng bệnh sởi, cách tốt nhất là cho trẻ tiêm văcxin phòng sởi theo lịch tiêm chủng do Bộ Y tế quy định: mũi 1 khi trẻ được 9-11 tháng tuổi; tiêm nhắc mũi 2 khi trẻ vào lớp 1 (6 tuổi).

Thứ Hai, 30 tháng 9, 2013

Những ngày qua, hơn 70 học sinh ở một số trường tiểu học, trung học cơ sở tại các quận, huyện ở TP.HCM đã bị các triệu chứng của bệnh rubella tấn công. Bệnh rubella có gây nguy hiểm cho trẻ hay bà mẹ mang thai? Bác sĩ Trương Hữu Khanh - Trưởng khoa Nhiễm - thần kinh (Bệnh viện Nhi đồng 1, TP.HCM) cho biết:


- Không chỉ ở trẻ em, bệnh rubella còn xảy ra ở nhiều lứa tuổi, người lớn cũng có thể mắc bệnh. Bệnh có thể xảy ra ở những người chưa mắc rubella lần nào, hoặc chưa từng được chủng ngừa trước đó. Rubella xảy ra rải rác quanh năm, nhưng có năm cũng xảy ra theo mùa (thường bệnh xảy ra nhiều vào khoảng từ tháng 2 đến tháng 6). Những nơi đông người như trường học, công ty, xí nghiệp, khu nhà trọ là môi trường dễ làm lây nhiễm bệnh rất nhanh, bởi rubella lây qua đường hô hấp.
* Triệu chứng bệnh như thế nào?
- Trẻ mắc bệnh rubella thường có những biểu hiện như: mệt mỏi, đau nhức cơ thể, sốt, ho... sau cùng là nổi ban (ban có màu hồng, hình tròn hoặc hình răng cưa), nổi hạch sau tai cùng lúc phát ban. Thiếu niên và người lớn mắc bệnh thì thường nặng hơn trẻ nhỏ, có kèm theo sốt cao. Thời gian ủ bệnh của rubella từ 10 - 14 ngày, sau khi nổi ban khoảng vài ngày thì hết.
* Bệnh có để lại di chứng gì không?
- Nếu trẻ mắc bệnh nên cho trẻ nghỉ ngơi, uống nhiều nước, hạn chế vận động để tránh biến chứng (viêm phổi), không cần nhập viện. Cần cách ly không cho trẻ mắc bệnh đến lớp, không cho công nhân có bệnh đến sở làm, xử lý môi trường nơi xảy ra bệnh để tránh lây lan bệnh.
Những nốt ban do bệnh rubella sau khi lặn đi không để lại sẹo. Bệnh không nguy hiểm đối với trẻ nhỏ, nhưng lại rất nguy hiểm đối với phụ nữ mang thai 3 tháng đầu thai kỳ. Nếu mắc bệnh rubella ở thời điểm này có thể làm sẩy thai, hoặc trẻ sinh ra có thể mắc rubella bẩm sinh, bị dị dạng (đầu nhỏ, bại não, tim bẩm sinh, đục thủy tinh thể...). Phòng bệnh bằng cách tiêm ngừa cho trẻ ở thời điểm từ 12 - 18 tháng tuổi, khi trẻ 5 - 6 tuổi tiêm nhắc lại một mũi nữa. Nếu trẻ lớn trên 5 tuổi thì chỉ tiêm một mũi. Ngoài ra, phụ nữ ở tuổi sinh đẻ cần tiêm ngừa trước khi mang thai.

Thứ Bảy, 28 tháng 9, 2013

Mùa mưa đã đến, những cơn mưa làm cho khí hậu bớt nóng khiến mọi người cảm thấy dễ chịu hơn. Tuy nhiên mùa mưa cũng là điều kiện thuận lợi cho muỗi sinh sôi và phát triển, do đó bệnh sốt xuất huyết cũng theo đó mà bùng phát nhiều hơn.


Bệnh sốt xuất huyết là gì? Đó là một bệnh nhiễm trùng do virus Dengue gây ra. Nó gây ra sốt, xuất huyết, truỵ tim mạch và có thể tử vong nếu không xử trí kịp thời và đúng đắn.
Bệnh sốt xuất huyết được lây truyền từ người bệnh sang người lành bởi con muỗi vằn Aedes aegypty. Muỗi thường sống xung quanh nhà. Muỗi cái thường hút máu người bệnh vào ban ngày và chích vào người lành làm lây lan bệnh.
Bệnh thường xảy ra ở trẻ em, nhất là từ 2 – 9 tuổi. Tuy nhiên ngày nay cũng thường thấy bệnh xảy ra ở cả người lớn nữa!
Các dấu hiệu nhận biết bệnh sốt xuất huyết:
- Sốt cao đột ngột kèm theo đau nhức mình mẩy, nhức đầu, đau khớp, chán ăn, ói mửa, đau họng.
- Đau bụng vùng thượng vị (vùng bụng ở ngay dưới mũi xương ức), hoặc đau vùng dưới bờ sườn bên phải. Nếu sờ dưới bờ sườn phải có thể thấy gan to.
- Có thể kèm theo co giật khi sốt cao.
- Nổi các nốt xuất huyết dưới da, là các điểm xuất huyết li ti. Nếu dùng dây garot thắt cánh tay khoảng 5 – 10 phút thì sẽ thấy xuất hiện các nốt xuất huyết rất nhiều, có khi tạo thành mảng.
- Nếu bệnh nặng có thể xuất huyết đường tiêu hoá gây ói ra máu, tiêu ra máu.
- Nặng hơn nữa thì xuất huyết não, màng não dễ bị tử vong.
- Trạng thái sốc: thường rơi vào ngày sốt thứ 3 – 5. Bệnh nhân bứt rứt, lừ đừ, tay chân lạnh, tím tái, thở nhanh, mạch yếu có khi không bắt được, huyết áp hạ không đo được, huyết áp kẹp (là trị số giữa huyết áp tối đa và tối thiểu < 20mmHg).
Xử trí:
Khi có các dấu hiệu kể trên (chỉ cần thấy sốt cao và có nốt xuất huyết dưới da, xuất huyết niêm mạc), nên đem bệnh nhân đến cơ sở y tế để khám và điều trị.
Bác sĩ sẽ cho xét nghiệm máu thêm, thấy tiểu cầu giảm <100.000/mm3, dung tích hồng cầu (Hct) tăng nhiều do máu bị cô đặc.
Trong khi chờ đợi đi khám bệnh, cho bệnh nhân uống thật nhiều nước. Uống dung dịch ORS (bán nhiều ở các nhà thuốc tây) 1gói pha với 1 lít nước sạch,  uống kèm theo nước trái cây, nước dừa...
Bệnh nhân sốt cao có thể uống thuốc hạ nhiệt như Paracetamol nhưng chú ý không được dùng Aspyrine vì sẽ gây xuất huyết nặng hơn và dễ gây sốc.
Sốt xuất huyết nặng sẽ được điều trị ở bệnh viện và cho truyền dịch hoặc truyền máu để bù khối lượng tuần hoàn.
Sốt xuất huyết nhẹ sẽ được điều trị ngoại trú và cần nhập viện ngay nếu thấy bệnh nhân li bì, bứt rứt, đau bụng nhiều, nôn ói, tay chân lạnh, tiểu ít, nhiệt độ giảm đột ngột.
Đề phòng:
Hiện nay chưa có thuốc chủng ngừa và chưa có thuốc điều trị đặc hiệu đối với bệnh sốt xuất huyết. Do đó, phòng bệnh vẫn là biện pháp chính để không bị sốt xuất huyết bằng cách:
- Vệ sinh ngoại cảnh: dọn dẹp bùn lầy, nước đọng, phát quang xung quanh nhà, thu dẹp các vật có nước đọng có thể làm nơi cho muỗi đẻ.
- Nuôi cá bảy màu ăn lăng quăng ở các bể chứa nước; các lu nước nên đậy nắp kín.
- Nhà cửa phải sáng sủa, thông thoáng, không treo nhiều quần áo trên vách nhà.
- Nên dùng cửa lưới để ngăn muỗi
- Dùng thuốc xịt muỗi để giết muỗi
- Ngủ mùng, thoa thuốc chống muỗi, đốt nhang đuổi muỗi.
Tóm lại sốt xuất huyết là một bệnh nguy hiểm và phổ biến lại chưa có thuốc chữa và thuốc ngừa. Vì vậy diệt muỗi và không để muỗi chích là biện pháp hữu hiệu nhất để tránh bệnh sốt xuất huyết.
BS NGUYỄN ĐÌNH SANG
Tuổi Trẻ


Thứ Tư, 25 tháng 9, 2013

Sốt cao là biểu hiện của nhiều bệnh nhiễm trùng khác nhau, tác nhân gây bệnh có thể là vi khuẩn hoặc siêu vi.
1. Trong mùa mưa trẻ sốt cao là do mắc bệnh sốt xuất huyết (SXH). SAISốt cao là biểu hiện của nhiều bệnh nhiễm trùng khác nhau, tác nhân gây bệnh có thể là vi khuẩn hoặc siêu vi. Tuy nhiên, trong mùa mưa cần lưu ý đặc biệt đến SXH vì bệnh này diễn tiến với nhiều bất ngờ, trường hợp nặng có thể dẫn đến tử vong.


2. Trẻ sốt cao nên để ở nhà theo dõi và cho uống thuốc hạ sốt, 2-3 ngày sau không hết sốt mới đưa đến bệnh viện khám. SAI
Vẫn phải đưa trẻ đi khám bệnh ngay để tìm nguyên nhân gây sốt. Bởi đó có thể chỉ là sốt thông thường do mọc răng hoặc là triệu trứng của căn bệnh phức tạp khác. Trường hợp sốt do bệnh SXH thì việc đưa đến bệnh viện điều trị sớm khi có biến chứng sẽ giảm đáng kể tỉ lệ tử vong.
3. Thuốc hạ sốt nào cũng dùng được cho trẻ nhỏ. SAI
Thuốc hạ sốt an toàn nhất cho trẻ là nhóm Acetaminophen (Paracetamol, Acemol...). Không nên cho trẻ dùng các loại thuốc hạ sốt chứa Aspirine, vì tác dụng phụ của thuốc này là gây xuất huyết, do đó nếu dùng cho một trẻ đang bị SXH thì cực kỳ nguy hiểm. Tuy nhiên, khi trẻ sốt, ngoài sử dụng thuốc cho trẻ, các bậc cha mẹ cũng nên kết hợp với việc lau mát vì phương pháp tự nhiên này rất an toàn và khá hiệu quả.
4. Cả trẻ em và người lớn đều có thể bị SXH. ĐÚNG
Ở độ tuổi nào cũng có nguy cơ mắc bệnh SXH. Trước đây, bệnh này thường gặp ở trẻ em nhưng nay người lớn cũng mắc bệnh SXH khá nhiều.
5. Vệ sinh môi trường quanh nhà là biện pháp phòng chống SXH tốt nhất. ĐÚNG
Vì những góc nhà bẩn, lu đựng nước lâu ngày... là nơi trú ngụ của muỗi và lăng quăng. Dọn sạch những nơi này muỗi không còn chỗ phát triển, như thế bệnh SXH khó có thể xảy ra.

Ngày 4/7, BS Nguyễn Thị Thúy, phó trưởng Khoa Nhiễm BV Nhi Đồng II, cảnh báo nhũ nhi dưới 18 tháng tuổi, nếu mắc bệnh sốt xuất huyết thường nặng hơn so với các trẻ lớn, do khó phát hiện và dễ lầm với các bệnh khác.


 Đến 10 giờ sáng ngày 4/7, Khoa Nhiễm BV Nhi Đồng II đang tiếp nhận và điều trị cho 30 trẻ mắc bệnh sốt xuất huyết trong đó có 3 trẻ nhũ nhi khoảng từ 6 - 7 tháng tuổi.
Tổng số bệnh sốt xuất huyết tại Khoa Nhiễm vào thời điểm này chiếm từ một phần ba đến hơn một nửa so với các bệnh truyền nhiễm khác như viêm não, bệnh tay chân miệng.
 Theo số liệu thống kê 6 tháng đầu năm 2006 của BV Nhi Đồng II, Khoa Nhiễm đã nhận và điều trị cho 870 bệnh nhân sốt xuất huyết, trong đó bệnh nhân độ I chiếm 149, độ II là 649, độ III là 65, độ IV là 7. So với cùng kỳ năm ngoái, bệnh nhân sốt xuất huyết chỉ có hơn 440 trẻ trong đó độ II là 326, độ III là 46. 
Theo BS Thúy, vào mùa mưa, có những giờ cao điểm trong khoa có đến 60 bệnh nhân nhi mắc bệnh sốt xuất huyết, trong khi toàn khoa chỉ có 100 giường bệnh.
Đồng thời, týp vi-rút gây sốt xuất huyết chủ yếu được xác định trong 5 tháng qua là týp 2, một týp có độc lực cao và dễ có khả năng gây thành dịch lớn.
Triệu chứng bệnh sốt xuất huyết ở nhũ nhi thường là sốt cao, ho, sổ mũi, tiêu chảy. Do đó, khi trẻ bị bệnh sốt xuất huyết thường dễ lầm với các bệnh khác như: tiêu chảy, viêm phế quản, viêm hô hấp trên.
Đối với các bậc phụ huynh, đặc biệt là các bà mẹ có con là nhũ nhi,khi trẻ bị sốt cao trên 2 ngày, quấy khóc, ói, bỏ ăn kèm theo xuất huyết dưới da, phải lập tức đưa trẻ đến khám tại các Trung tâm Y tế quận, huyện để bác sĩ chỉ định xét nghiệm máu, theo dõi diễn tiến bệnh.
Khi chăm sóc trẻ sốt xuất huyết tại nhà, khi cho trẻ uống thuốc hạ sốt, các bậc phụ huynh tránh dùng aspirin và ibuprofen. Hai loại thuốc này có thể gây xuất huyết đường tiêu hóa. Trẻ sốt cao có thể đắp mát để giúp hạ thân nhiệt và cho trẻ uống nhiều nước.

Thứ Ba, 24 tháng 9, 2013

Tay-chân-miệng là bệnh nhiễm trùng phổ biến ở trẻ dưới 5 tuổi. Bệnh tay-chân-miệng thường hình thành các ổ dịch nhỏ trong những trường mầm non.
Bệnh do Enterovirus 71 và Coxsakie Theo Sở Y tế TPHCM, hiện nay bệnh “tay - chân - miệng” (hand-foot-and-mouth disease) đang có khuynh hướng gia tăng từ những ngày nhập học.


Tại Bệnh viện Nhi đồng 1, mỗi tuần có khoảng 300 trường hợp khám bệnh “tay - chân - miệng”, trong đó có trên 30 trường hợp phải nhập viện do bị biến chứng lên não, thần kinh, viêm cơ tim, liệt chi…
Nguyên nhân gây bệnh này là do các loại siêu vi Enterovirus 71 và Coxsakie. Bệnh lây qua đường nước bọt, phân và dịch tiêu hóa. Bệnh thường xảy ra ở trẻ nhỏ dưới 3 tuổi nhưng đến nay vẫn chưa có vaccine phòng bệnh hoặc thuốc đặc trị.
Bệnh có biểu hiện đặc trưng là sốt, xuất hiện hồng ban và tổn thương loét ở niêm mạc miệng làm cho trẻ biếng ăn và bóng nước (mụn phỏng, 2-10mm) ở mu tay và mu chân trong nhiều ngày. Triệu chứng thần kinh như: sốt cao, đau đầu, nôn mửa.
Thường thì bệnh thường chỉ kéo dài vài ngày, bệnh nhân có thể tự cải thiện và hồi phục. Nếu cần có thể sử dụng một số thuốc giảm đau thông thường để đỡ khó chịu do mụn rộp trong miệng. Tuy nhiên, chớ nên coi thường vì bệnh có thể gây ra các biểu hiện thần kinh cấp tính, đôi khi dẫn đến viêm màng não vô trùng, viêm não tủy hoặc thậm chí liệt mềm cấp giống như viêm tủy xám bại liệt.
Người ta chia bệnh thành 4 cấp độ: Giai đoạn 1, xuất hiện hồng ban, bóng nước và có thể gây biến chứng; Giai đoạn 2, có ảnh hưởng đến thần kinh trung ương (như viêm não hoặc viêm màng não); Giai đoạn 3, suy hô hấp, phù phổi, huyết áp không bình thường (tăng hoặc giảm); Giai đoạn 4, hồi phục hoặc tử vong.
Dễ gây biến chứng
Một nghiên cứu ở Đài Loan trên 41 trẻ bị bệnh “tay - chân - miệng” cho thấy: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 2,5 tuổi (từ 3 tháng đến 8,2 tuổi). Có 28 bệnh nhân bị bệnh này (68%), có 6 bệnh nhân có viêm họng herpes và 7 bệnh nhân khác không có tổn thương da hay niêm mạc.
Ba hội chứng thần kinh được ghi nhận là: viêm não vô trùng (ở 3 bệnh nhân); viêm thân não (37 bệnh nhân) và liệt mềm cấp (4 bệnh nhân, sau đó có 3 bệnh nhân viêm thân não). Trong 20 bệnh nhân viêm thân não, đặc trưng của hội chứng là phản xạ rung giật cơ, thất điều vận động, hoặc cả hai (bệnh độ 1). Mười bệnh nhân bị rung giật cơ và tổn thương thần kinh sọ (bệnh độ 2). Bảy bệnh nhân nhiễm virus thân não có biểu hiện rung giật cơ thoáng qua, tiếp theo là khởi phát nhanh suy hô hấp, tím tái, giảm tưới máu ngoại vi, sốc, hôn mê, mất phản xạ mắt búp bê và khó thở (bệnh độ 3); 5 bệnh nhân trong số này tử vong trong vòng 12 giờ sau nhập viện.
Có 17 trong số 24 bệnh nhân bị viêm thân não được chụp MRI, cho thấy hình ảnh tổn thương đậm độ cao ở vùng thân não, thường gặp nhất ở chỏm cầu não. Khi tái khám, 2 bệnh nhân có liệt mềm cấp bị di chứng yếu chi và 5 bệnh nhân có viêm thân não bị di chứng khiếm khuyết thần kinh dai dẳng, gồm rung giật cơ (1 trẻ), tổn thương thần kinh sọ (2 trẻ) và ngưng thở lệ thuộc máy thở (2 trẻ).
Nghiên cứu cho biết các biến chứng thần kinh chính là viêm thân não, có tỷ lệ tử vong là 14%. Các triệu chứng khởi đầu thường gặp nhất là rung giật cơ, và chụp MRI thường cho thấy bằng chứng về tổn thương thân não.
Phòng ngừa và điều trị
Bệnh “tay - chân - miệng” có thể phòng ngừa được bằng cách giữ vệ sinh thân thể sạch sẽ, nên rửa tay bằng xà bông diệt khuẩn cho trẻ trước khi ăn, thực hiện chế độ ăn chín, uống sôi. Cần cách ly trẻ với môi trường bị nhiễm bệnh, đặc biệt là dụng cụ học tập, đồ chơi.
Trong trường hợp trẻ bị bệnh, việc phát hiện sớm và điều trị đúng cách sẽ quyết định giảm tỷ lệ tử vong và di chứng. Tùy từng trường hợp, thể trạng, giới tính, tuổi tác cấp độ bệnh mà có giải pháp điều trị khác nhau. Đối với trường hợp ở cấp độ 1, bệnh nhân có thể điều trị ngoại trú, nghỉ ngơi, tránh những yếu tố gây kích thích. Theo dõi chặt chẽ và tái khám mỗi ngày. Từ cấp độ 2 trở lên thì trẻ cần được đưa vào trung tâm y tế để điều trị tích cực bằng kháng sinh, chống phù não, bảo đảm đường thông khí, phát hiện và điều trị bội nhiễm…

Bác sĩ Nguyễn Văn Lâm, Khoa truyền nhiễm, Bệnh viện Nhi Trung ương, cảnh báo: “Đây là thời điểm thuận lợi để bệnh thuỷ đậu phát triển. Nếu cha mẹ không biết cách phòng ngừa bệnh sẽ dẫn đến nhiễm trùng, viêm phổi, viêm não".

 
Bệnh thủy đậu không nặng nhưng phức tạp và dễ biến chứng.

Bệnh lây nhiễm do virus

Theo BS Lâm, thuỷ đậu là bệnh nhiễm virus cấp tính toàn thân với khởi bệnh đột ngột, sốt nhẹ, sau đó ở da xuất hiện những nốt phỏng nước như hạt đậu. Sau 3-4 ngày, những nốt phỏng bắt đầu xẹp nước và để lại những nốt vảy. 

Các tổn thương của nốt đậu thường xuất hiện nhiều ở chỗ kín hơn chỗ hở, thường mọc nhiều ở các vùng như: Da đầu, hố nách, niêm mạc miệng, đường hô hấp trên, kết mạc. Trong một vài trường hợp, bệnh ở thể ẩn, không xuất hiện những nốt phỏng.

BS Lâm khẳng định, bệnh thuỷ đậu là một trong những bệnh truyền nhiễm dễ lây nhất, nhất là ở giai đoạn đầu mới phát ban. Cơ chế lây truyền là từ người sang người bằng tiếp xúc trực tiếp. Khi tiếp xúc, những giọt nước bọt bắn trong không khí có chứa virus gây bệnh thuỷ đậu sẽ dễ dàng lây sang người lành, nhất là trẻ nhỏ vốn có sức đề kháng yếu ớt. 

Vì vậy, ở những nơi tập trung đông trẻ như các trường mẫu giáo, các trường tiểu học, nếu xuất hiện một vài ca bệnh thuỷ đậu sẽ rất dễ lây lan thành dịch. Thời kỳ ủ bệnh thường từ 2-3 tuần. Thời kỳ lây truyền dài nhất là 5 ngày, thường từ 1-2 ngày trước khi phát ban và không quá 5 ngày sau khi xuất hiện lớp phỏng rạ đầu tiên.

Điều trị đúng cách

“Phải cách ly với người lành ngay khi bé có dấu hiệu mắc bệnh”, bs Lâm khuyến cáo. Tốt nhất là cho trẻ nghỉ học để tránh lây sang các trẻ khác. Tất cả đồ dùng cá nhân của người bệnh đều được dùng riêng, nhất là bát, đũa, khăn mặt. 

Khi trẻ mắc bệnh, cần đưa trẻ đi khám bác sĩ, không được tự ý tắm cho trẻ bằng các loại lá theo chỉ dẫn truyền miệng dân gian để tránh tình trạng bội nhiễm, nhất là nhiễm trùng máu rất nguy hiểm, có thể dẫn đến tử vong. Tuỳ tình trạng bệnh, bác sĩ sẽ đưa ra phác đồ điều trị thích hợp, trong đó thuốc đặc hiệu để diệt virus là không thể thiếu. 

Kết quả cho thấy, điều trị đặc hiệu bằng cả 2 loại thuốc vidarabin (adenin arabinosit, Ara-A) và acycclovir (zovirax) đều có hiệu quả tốt, nhưng bệnh nhân cần được điều trị sớm trong vòng 24 giờ sau khi nổi các nốt phỏng.

Đặc biệt, thuốc acycclovir có tác dụng rút ngắn thời gian biểu hiện triệu chứng và đau ở những người cao tuổi. Phần lớn, nếu ở thể nhẹ, bệnh nhân sẽ được chỉ định bôi dung dịch xanhmethilen.

Tiêm vaccine để phòng bệnh

BS Lâm cũng cho hay, cách phòng bệnh tốt nhất hiện nay là tiêm vaccine. Liều đơn 0,5ml tiêm dưới da, tiêm cho trẻ cảm nhiễm từ 12 tháng đến 12 tuổi. Hiệu lực bảo vệ của vaccine này từ 70-90% trong vòng 3-6 năm. 

Tuy nhiên, trong thực tế có những trường hợp đã tiêm phòng vaccine nhưng vẫn mắc bệnh. 

Phần lớn các trường hợp đã tiêm phòng mắc bệnh đều ở thể nhẹ, các nốt phỏng sẽ ít hơn, triệu chứng lâm sàng (sốt, ho, bội nhiễm) sẽ ít hơn. Những người có những bệnh mạn tính làm suy giảm hệ miễn dịch nên được tiêm nhắc lại vaccine liều thứ 2, khoảng cách với liều đầu khoảng 4 tuần

Những biến chứng nguy hiểm của bệnh thuỷ đậu

Bệnh thuỷ đậu khá nguy hiểm, trong trường hợp để bệnh tiến triển quá nặng, sẽ dẫn đến biến chứng viêm phổi virus tiên phát, viêm thận, viêm tuỵ. Còn ở trẻ em bệnh thường gây biến chứng nhiễm trùng huyết và viêm màng não. 

Đặc biệt, phụ nữ trong thời kỳ mang thai cần lưu ý: Nhiễm bệnh trong 3 tháng đầu của thời kỳ mang thai có thể liên quan đến dị tật bẩm sinh! Kết quả theo dõi cho thấy, có tới 25% thai nhi sẽ bị ảnh hưởng nếu người mẹ mắc bệnh thủy đậu trong thời kỳ đầu của thai kỳ. 

Điều nguy hiểm là phụ nữ mang thai nếu mắc bệnh thuỷ đậu trong vòng 1 tuần trước và sau khi sinh thì có tới 30% trẻ em sinh ra có thể bị tử vong do mắc hội chứng thuỷ đậu do bị nhiễm bệnh thuỷ đậu từ mẹ quá sớm. 

Thứ Bảy, 21 tháng 9, 2013

a. Thuỷ đậu
Bệnh này là một bệnh nhẹ do virus gây nên. Khi một trẻ lây bệnh từ một trẻ khác thì 2-3 tuần sau mới có biểu hiện.


Dấu hiệu:

Trước tiên xuất hiện rất nhiều nốt nhỏ, đỏ, ngứa. Những nốt này trở thành nốt mụn phồng nước, những mụn này vỡ ra và cuối cùng đóng vẩy. Thường mụn bắt đầu xuất hiện ở trên người và sau đó ở mặt, tay và chân. Có thể cùng một lúc có những chỗ phồng nước, chỗ dộp, chỗ đóng vẩy. Thường sốt nhẹ.


Cách chữa:

Bệnh khỏi sau 1 tuần. Hằng ngày tắm cho trẻ bằng xà phòng và nước ấm. Cắt móng tay thật ngắn. Nếu có những nốt đóng vẩy bị loét cần bôi mỡ kháng sinh hoặc thuốc sát khuẩn.

b. Sởi

Bệnh nhiễm virus nặng này đặc biết nguy hiểm ở những trẻ em nuôi dưỡng kém hoặc bị bệnh lao. Sau mươi ngày ở gần một trẻ bị sởi, trẻ bắt đầu có dấu hiệu của cảm sốt, sổ mũi, đau mắt đỏ và ho. Trẻ ngày càng ốm. Mồm có thể bị loét và có thể bị ỉa chảy. Sau 2 hay 3 ngày, một số nốt trắng như những hạt muối xuất hiện ở trong mồm. 1-2 ngày sau, những nổt ban xuất hiện - trước tiên ở sau tai và cổ, rồi nổi lên ở mặt, người và cuối cùng ở tay, chân. Sau khi ban nổi, trẻ thường có vẻ đỡ hơn. Ban kéo dài khoảng 5 ngày.

Cách chữa

* Trẻ cần nghỉ tại giường, uống nhiều chất lỏng, và cho thức ăn bổ. Đối với các cháu nhỏ không bú được, cho ăn sữa mẹ bằng thìa.

* Dùng thuốc hạ sốt và giảm ngứa.

* Nếu bị đau tai, dùng kháng sinh.

* Nếu thấy có dấu hiệu viêm phổi, viêm màng não, hoặc đau nhiều ở tai hoặc ở bụng, cần đi khám bệnh.

Đề phòng bệnh sởi

Trẻ em bị sởi nên tránh không lại gần các trẻ em khác. Nên đặc biệt chú ý bảo vệ các em ăn uống thiếu thốn hoặc bị lao, hoặc bị những bệnh kinh niên khác. Trẻ em khỏe không nên đến các gia đình đang có người lên sởi. Trẻ em chưa mắc bệnh sởi trong một gia đình đang có bệnh sởi không được đi học hay đi đến các nơi đông người trong thời gian 10 ngày.

Muốn tránh cho trẻ em khỏi chết vì bệnh sởi. Cần cho trẻ ăn tốt. Cần tiêm chủng phòng bệnh sởi khi trẻ được 9 tháng tuổi.

c. Rubella

Bệnh Rubeon không nặng như bệnh sởi thông thường. Bệnh kéo dài 3-4 ngày. Ban phát nhẹ hơn. Đôi khi có hạch ở sau đầu, cổ sưng và đau.

Trẻ mắc bệnh phải nằm nghỉ tại giường và uống thuốc giảm đau nếu cần.

Phụ nữ mắc bệnh này vào lúc có thai được 3 tháng, có thể con đẻ ra có tổn thương hoặc bị dị dạng bẩm sinh. Vì vậy phụ nữ có thai, chưa bị bệnh rubeon này, nên tránh xa những trẻ em đang bị bệnh.

d. Quai bị

Dấu hiệu đầu tiên bắt đầu có sau khi bị lây từ một người bị quai bị 2-3 tuần.

Bệnh bắt đầu bằng sốt và có cảm giác đau khi há mồm hay nhai. Sau 2 ngày, sau tai và góc hàm thấy sưng rồi mới sang bên kia.

Cách chữa

Sau 10 ngày thì tự nhiên hết sưng mà không cần uống thuốc. Có thể uống thuốc hạ sốt, giảm đau. Cho thức ăn bổ, mềm và giữ cho miệng sạch.

Biến chứng

Ở người lớn và trẻ em trên 11 tuổi, sau tuần đầu có thể thấy đau ở bụng hoặc sưng, đau ở tinh hoàn (ở nam), hoặc ở vú (ở nữ). Người bị sưng như thế nên nằm hay ngồi yên một chỗ và đắp khăn lạnh vào chỗ sưng để giảm bớt đau và bớt sưng. Nếu có dấu hiệu viêm màng não, phải đi khám bệnh.

e. Ho gà

Bệnh ho gà bắt đầu từ 1-2 tuần sau khi bị lây từ trẻ ho gà khác. Ho gà khởi phát giống như bị cảm lạnh: Sốt, sổ mũi, và ho.

Hai tuần sau, cơn ho gà bắt đầu. Trẻ ho dồn dập nhiều lần, không kịp thở, cho đến khi khạc ra một cục nhày đặc, rồi trẻ lại hít hơi vào phổi với một tiếng rít. Khi ho như thế, môi, móng tay bị tím vì thiếu không khí. Sau cơ ho trẻ có thể nôn. Giữa các cơn ho, trẻ gần như có vẻ khỏe mạnh.

Ho gà thường hết sau 3 tháng hay lâu hơn.

Ho gà đặc biệt nguy hiểm đối với trẻ em dưới 1 tuổi, nên cần tiêm chủng sớm cho trẻ. Các trẻ nhỏ có thể bị ho gà nhưng không điển hình nên khó biết là bị ho gà. Nếu trẻ có những cơn ho, mắt sưng hay hum húp, trong khi xung quanh có một số trẻ bị ho gà thì nên điều trị ngay như ho gà.

Cách chữa:

* Vào giai đoạn đầu, trước khi cơn ho gà xuất hiện, nên dùng kháng sinh. Đối với trẻ em dưới 6 tháng, điều đặc biệt quan trọng là chữa sớm ngay khi thấy dấu hiệu đầu tiên.

* Trường hợp nặng, nhất là khi trẻ mất ngủ hay co giật, có thể dùng phenolbacbital.

* Để tránh cho trẻ khỏi bị sút cân và suy dinh dưỡng, nên cho ăn tốt và cho ăn lại ngay sau khi nôn.

Biến chứng

Có thể bị xuất huyết củng mạc mắt do ho gà, không cần phải điều trị. Nếu có co giật, hay dấu hiệu viêm phổi, viêm màng não cần đi khám bệnh.

g. Bạch hầu

Bệnh bắt đầu như cảm lạnh có sốt, nhức đầu và viêm họng. Có một màng màu vàng xám bám ở thành sau họng và có khi ở mũi và môi. Cổ trẻ có thể bị sưng. Hơi thở rất hôi.

Nếu nghi ngờ một trẻ bị bạch hầu:

- Để trẻ nằm cách ly trong một buồng riêng

- Đi khám bệnh ngay. Dùng kháng độc tố đặc biệt để chống bạch hầu.

- Uống pênicillin, viên 400.000 đơn vị, cho trẻ lớn uống 3 lần/ngày.

- Súc họng bằng nước muối ấm.

- Cho hít hơi nước nóng nhiều lần hay liên tục.

- Nếu trẻ bắt đầu khó thở và da trở nên tím, dùng miếng gạc quấn vào đầu ngón tay, gạt bỏ màng trắng bám ở trong họng.

Bạch hầu  là một bệnh nguy hiểm nhưng có thể đề phòng dễ dàng bằng cách tiêm chủng vắc-xin.

h. Bại liệt

Bệnh hay gặp nhất ở trẻ em dưới 2 tuổi.

Bệnh nhiễm virus này khởi phát như cảm có sốt, nôn, đau cổ. Đôi khi chỉ có thế. Nhưng cũng có khi một phần cơ thể bị yếu hay bị liệt. Thường có liệt một chân hoặc cả hai chân. Một thời gian sau chân liệt teo và không to nhanh như chân kia.

Cách chữa

Một khi bệnh đã phát ra, không có thuốc gì có thể làm hết liệt. Kháng sinh không có tác dụng. Châm cứu có thể giúp tình trạng khá hơn. Có thể dùng thuốc giảm đau non-steroid và đắp khăn nóng lên các cơ bị đau.

Phòng bệnh

Để trẻ bị bệnh trong một phòng riêng, cách ly với các trẻ khác. Người mẹ phải rửa tay sạch sau khi tiếp xúc với trẻ ốm. Cách phòng bệnh tốt nhất là uống vắc-xin phòng bại liệt khi trẻ được 2,3 và 4 tháng tuổi.

Một trẻ bị tàn tật do bại liệt, cần được bồi dưỡng và tập vận động để củng cố những cơ còn lại. Trong năm đầu một phần sức lực có thể trở lại.

Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2013

Chứng ho lâu ngày là một bệnh nhiễm trùng đường hô hấp do vi khuẩn gây ho lâu ngày Bordetella gây ra. Chứng bệnh này được miêu tả với các đặc trưng ho nhiều, dẫn đến ho khúc khắc khi người bệnh hít thở. 


Tại Mỹ, căn bệnh này giết 5.000-10.000 người mỗi năm. Hiện nay vaccine ngừa ho lâu ngày đã giúp giảm số tử vong vì căn bệnh này xuống 30%. Mặc dù ho lâu ngày có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng đối tượng nó thường tấn công là trẻ không được chủng ngừa và trẻ sơ sinh dưới 1 tuổi. Theo thống kê, khoảng 40% trong số các ca nhiễm trùng gây ho lâu ngày xảy ra ở trẻ dưới 1 tuổi, 15% xảy ra ở trẻ trên 15 tuổi. Một nửa trong số các ca tử vong do ho lâu ngày nằm trong nhóm trẻ sơ sinh dưới 1 tuổi, và các biến chứng nghiêm trọng cũng thường xảy ra ở nhóm này. Trong những năm qua, bệnh ho lâu ngày cũng đang tăng lên ở nhóm thanh thiếu niên và người lớn. Việc chủng ngừa sớm có thể ngăn được bệnh này. Dấu hiệu và triệu chứng Các triệu chứng đầu tiên của chứng ho lâu ngày thường giống với bệnh cảm lạnh thông thường, bao gồm: - Chảy nước mũi - Hắt hơi - Ho nhẹ - Sốt nhẹ Sau khoảng 1-2 tuần, triệu chứng ho khan, rát chuyển thành ho từng đợt, mỗi đợt có thể kéo dài hơn 1 phút, có thể khiến cho trẻ trở nên đỏ hoặc da có màu như xuất huyết. Cuối mỗi cơn ho, trẻ có thể phát ra âm thanh ho khúc khắc khi thở hoặc có thể nôn mửa. Giữa các cơn ho, trẻ thường cảm thấy dễ chịu. Các con đường lây lan của bệnh Chứng ho lâu ngày có nguy cơ lây lan cao. Vi khuẩn lây từ người này sang người khác qua chất dịch từ mũi hay miệng của người nhiễm bệnh khi người bệnh ho, hắt hơi hay cười to. Những người khác sau đó có thể bị nhiễm bệnh do hít phải các chất dịch này hoặc khi các chất này bám vào tay họ và họ vô tình chạm tay vào mũi hay miệng mình. Người nhiễm bệnh thường lây bệnh ở giai đoạn đầu của bệnh đến khoảng 2 tuần sau khi bắt đầu bị ho. Thời gian ủ bệnh Thời gian ủ bệnh thường từ 7-10 ngày, cũng có thể kéo dài đến 21 ngày. Thời gian kéo dài bệnh Ho lâu ngày có thể gây ra nhiều triệu chứng kéo dài. Triệu chứng đầu tiên là trẻ thường bị cảm lạnh từ 1-2 tuần. Sau đó là ho từ 2-4 tuần, đôi khi lâu hơn. Giai đoạn cuối bao gồm nhiều tuần để hồi phục từ từ. Trong một số trường hợp, trẻ có thể phải mất đến nhiều tháng mới hồi phục hẳn. Ngăn ngừa bệnh Chứng ho lâu ngày có thể được ngăn ngừa bằng cách tiêm vaccine, với 5 liều tiêm dành cho trẻ cho đến khi trẻ lên 6 tuổi. Các chuyên gia tin rằng có đến 80% những thành viên trong gia đình không được tiêm ngừa mắc bệnh ho lâu ngày nếu họ sống chung nhà với người mắc bệnh này. Vì lý do này mà bất cứ người nào có tiếp xúc gần với bệnh nhân ho lâu ngày cũng nên dùng kháng sinh để ngừa bệnh lây lan. Riêng trẻ nhỏ không nhận đủ 5 liều vaccine có thể yêu cầu một liều tăng cường nếu trong nhà có người bị bệnh. Tuổi Trẻ 

Design by Hao Tran | Blogger Theme by Sức khỏe sinh sản -