Đái dầm là chứng bệnh thông thường của trẻ em. Khoảng 15-20% trẻ em dưới 5 tuổi mắc bệnh đái dầm. Đái dầm là gì? Trẻ nào hay tè dầm? Khi đến tuổi (con gái 5 tuổi, con trai 6 tuổi) mà trẻ không kiểm soát được việc đi tiểu trong lúc ngủ là bị bệnh tè dầm. Trẻ tới 5 tuổi tè dầm liênmiên, là loại tè dầm loại 1 (Khoảng 15-20%). Trẻ từ 5-12 tuổi, có lúc đã không đái dầm được 6 tháng, rồi lại tè dầm trở lại, là loại tè dầm loại 2 (Khoảng 3-8%). Có tới 2-5% trẻ đã lớn rồi, thậm chí ở vị thành niên vẫn còn tè dầm. Bệnh tè dầm có tính di truyền. Nếu bố hay mẹ thuở nhỏ đái dầm thì 40% con cái cũng sẽ bị bệnh tè dầm. Nếu cả bố lẫn mẹ thuở nhỏ bị bệnh tè dầm thì có tới 70-75% con cái sẽ bị bệnh tè dầm. Nguyên nhân tè dầm Chưa biết được rõ ràng. Tuy nhiên, kiểm soát tiểu tiện tùy thuộc vào nhiều yếu tố, như: Khả năng phát triển bàng quang không tốt, hay bàng quang quá nhỏ, không kiểm soát được hoạt động của ống dẫn tiểu, không kiểm soát được hoạt động của bàng quang, chậm phát triển hệ thống thần kinh cũng có thể sinh ra đái dầm. Khi bàng quang đã đầy nước tiểu mà bệnh nhân vẫn chưa muốn thức giấc, sẽ đái dầm. Phụ huynh thường than phiền rằng con cái ngủ say quá nên tè dầm, nhưng thật ra tè dầm không liên quan tới giấc ngủ, mặc dầu trẻ lớn thường thức giấc kịp thời để đi tiểu nên ít bị tè dầm hơn. Trẻ em bị những chứng bệnh sau đây có thể hay tè dầm: - Tâm lý căng thẳng. - Ngủ ngáy lớn vì bị adenoids hay có cục thịt dư lớn trong họng. - Đi tiểu thường xuyên vì nhiễm trùng đường tiểu. - Đi tiểu nhiều, giảm trọng lượng (bị bệnh đái tháo đường, bệnh thận). - Đường tiểu yếu, đêm ngày đều tiểu són (bị nghẹt đường tiểu), v...v... "Tè dầm" ảnh hưởng tới tâm tính trẻ em Trẻ bị bệnh tâm lý ít khi bị tè dầm, nhưng ngược lại, đái dầm gây nhiều vấn đề tâm lý cho trẻ. Nếu trên 10 tuổi mà trẻ còn tè dầm, có thể trẻ đã bị chứng bệnh tâm lý vì không được săn sóc, bị chú ý quá mức, bị căng thẳng, buồn rầu, không thích chơi với những trẻ khác. Tâm tính trẻ sẽ trở nên bất thường, khó chịu vì cảm thấy tự mình không kiểm soát được chính mình. Điều trị bệnh tè dầm Những thuốc chữa đái dầm gồm có: - Oxybutynin chloride (Di-tropan). - Imipramine HCL (Tofranil). - Desmopressin acetate (DDAVP). Thuốc chữa tè dầm phức tạp, tùy theo những trường hợp khác nhau mà cần có toa, cần có bác sĩ theo dõi. Những phương pháp chữa tè dầm khác: Tùy theo môi trường xung quanh mà trước khi trẻ được đưa đi bác sĩ khám bệnh tè dầm, bố mẹ thường tìm cách tự giảm bệnh bằng nhiều phương pháp khác nhau như: hạn chế không cho con uống nhiều nước trước khi đi ngủ, đánh thức con dậy đi tiểu… Đôi khi bố mẹ còn hạn chế không cho con ăn chocolate, uống sữa, nước cam, hay những loại dễ làm đi tiểu như nước trà, coca cola ( G. Lackgren et al. Acta Paediatr. 88: 679, 1999). Khi trẻ đã đến tuổi đi học thì nên trải miếng nhựa trên giường, tốt hơn là bắt trẻ mặc tã. Nên để đèn đêm gần chỗ tiểu, để trẻ không ngại trở dậy đi tiểu. Nên khuyến khích trẻ Nên giúp đỡ trẻ vượt qua những lúc khó khăn, đừng trừng phạt trẻ. Không nên đổ lỗi cho trẻ, mà ngược lại nên giúp trẻ hiểu biết, có trách nhiệm, để trẻ có thể làm được những gì cần phải tự làm. (Trẻ có thể giúp bố mẹ lau rửa giường nệm hay tự tắm rửa). Nếu trẻ thức giấc, khuyên trẻ cố gắng tự đi tiểu hay đêm nào trẻ không bị đái dầm, nên khuyến khích, khen ngợi trẻ. Phương pháp này sẽ giúp trẻ tự tin lên và khỏi hẳn đái dầm (lên tới 25%) giúp trẻ thêm tiến bộ trong việc tự kiểm soát được đái dầm (khoảng 75%) (HG Ruston, J. Pediatr. 114: 691, 1989). Tập luyện bàng quang: Nhất là trong trường hợp bọng đái quá nhỏ. Tập luyện bằng cách lúc đang đi tiểu, tự ngưng lại, kéo dài đường tiểu. Cũng có thể uống nhiều nước vào ban ngày. Dụng cụ báo động lúc tè dầm: Có lẽ đây là phương pháp hiệu quả nhất để chữa bệnh đái dầm. Dụng cụ nối với đồng hồ báo thức được gài vào trong quần của trẻ. Khi đái dầm, nước tiểu trong quần có độ ẩm báo hiệu, đồng hồ reo vang, đánh thức trẻ dậy đi tiểu. Thường thì phải cần tới 3 tuần lễ mới có kết quả tốt. Đôi khi, có thể kết hợp như: vừa dùng thuốc, vừa dùng đồng hồ báo thức, cũng có kết quả tốt. Sau hết, trong trường hợp trẻ đi cắm trại, hay ngủ lại nhà bạn, nên mang theo tã (cho dù không thường dùng tã ở nhà), hoặc dùng thuốc Desmopressin acetate, nhưng phải được bác sĩ chỉ dẫn. TS. BS. TRẦN MẠNH NGÔ (Hoa Kỳ) |
Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh trẻ em. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh trẻ em. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Năm, 24 tháng 10, 2013
16:44
Unknown
16:42
Unknown
NGUYỄN PHƯƠNG ĐÀN Theo Phòng trị những bệnh thường gặp của trẻ em Có mấy cách phòng bệnh: 1. Tập thành thói quen đi đại tiện đúng giờ. Có thể hàng ngày vào một giờ nhất định, cho trẻ ngồi vào bô đại tiện, những ngày đầu chưa quen, trẻ không đại tiện được cũng không sao, |
16:41
Unknown
Nhiễm trùng tiểu là một bệnh rất thường gặp ở trẻ em, đặc biệt là trẻ gái nhưng lại dễ bị bỏ sót vì triệu chứng thường rất mơ hồ. Đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng gây sốt kéo dài. Nếu không được điều trị thích hợp, bệnh có thể gây ra những biến chứng nguy hiểmnhư nhiễm trùng huyết, suy thận, cao huyết áp. Bệnh hay gặp ở trẻ gái hơn trẻ trai vì đường tiểu ở nữ ngắn, vi khuẩn dễ dàng từ ngoài đi ngược dòng niệu đạo lên bàng quang gây viêm bàng quang, rồi từ bàng quang theo niệu quản lên thận gây viêm đài bể thận. Nhiễm trùng vùng âm hộ ở nữ cũng dễ dẫn đến nhiễm trùng tiểu vì lỗ tiểu và cưa âm hộ ở kế bên nhau. Người ta thường thấy hai bệnh này đi cùng với nhau ở những bé gái hay ngồi lê la dưới đất mà không được mặc quần bảo vệ hay vải quần quá mỏng. Ngoài ra, các bà mẹ khi làm vệ sinh cho con gái thường hay có thói quen lau chùi từ dưới lên trên (khi trẻ ớ tư thế nằm) tức là từ phía sau ra phía trước. Chính động tác này đã vô tình đem vi khuẩn từ hậu môn ra lỗ tiểu và lỗ âm hộ. Do đó. đa số các nhiễm trùng tiểu đều do vi khuẩn. co li có rất nhiều trong phân gây ra. Ngoài ra, bệnh còn do Proteus, Klebsiella... cũng có trong phân. ơ những trẻ bị lãi kim không được điều trị, chính lãi kim là tác nhân đem vi khuẩn từ hậu môn ra phía trước. Đặc biệt, dễ mắc nhiễm trùng tiểu là những trẻ có điều bất thường ở hệ niệu như tắc nghẽn đường tiểu (ví dụ: van niệu đạo sau), bị trào ngược bàng quang - niệu quản, có sỏi niệu hoặc những trẻ được làm thủ thuật niệu khoa như đặt ống thông tiểu, soi bàng quang... Các triệu chứng thường mơ hồ và thay đổi theo lứa tuổi: Ở sơ sinh: có thể nóng sốt hoặc ngược lại chỉ là hạ thân nhiệt (dưới 36 độ C) trẻ bú kém, ói mửa, tiêu chảy hoặc đơn thuần là vàng da kéo dài. Trẻ nhỏ dưới 2 - 3 tuổi: sốt kéo dài không rõ nguyên nhân, biếng ăn hoặc chỉ đơn thuần là không tăng cân. Trẻ lớn: có các triệu chứng điển hình như tiểu gắt buốt, tiểu đau, tiểu đục, tiểu lắt nhắt, đái dầm trong nhiễm trùng đường tiểu dướI (còn gọi là viêm bàng quang) hay sốt cao, đau hông lưng, đau bụng trong nhiễm trùng đường tiểu trên (còn gọi là viêm đài bể thận). Nếu bị viêm đài bể thận mãn, trẻ thường không có triệu chứng, chỉ bị cao huyết áp khi có sẹo ở thận (do các ổ áp xe khi lành để lại). Việc chẩn đoán nhiễm trùng tiểu chỉ chắc chắn khi xét nghiệm cấy nước tiểu thấy có vi khuẩn gây bệnh. Bạch cầu cũng có thể hiện diện trong nước tiểu. Để điều trị, đối với nhiễm trùng tiểu dưới, chỉ cần một loại kháng sinh uống trong 10 - 14 ngày như amoxicillin, ampicillin, bactrim, nitrofurantoin... Đối với nhiễm trùng tiểu trên, phải kết hợp hai loạI kháng sinh bằng đường tiêm như cephalosporin cộng với gentanlycin. Vì việc điều trị khá dài ngày và đôi khi tốn kém, nên tốt nhất là phòng ngừa không cho trẻ lê la dưới đất. Vệ sinh tốt vừng âm hộ, rửa sạch đít cho trẻ sau mỗi lần đi tiêu. Dù rửa hay lau cũng phải tuân theo nguyên tắc: luôn luôn đi từ phía trước (lỗ tiểu và âm hộ) ra phía sau tới lỗ hậu môn. Tuyệt đối không kéo tới kéo lui mà chỉ một chiều từ trước ra sau, rồi lạI từ trước ra sau cho đến khi sạch hẳn. Mặc quần cho trẻ, dù là gái hay trai (ta thường hay cho trẻ ở truồng để đỡ thay quần, quần bé trai thường lại có loại để trống đít cho trẻ tiện đi tiêu). Vai quần nên tránh loại ny lon vì nóng và bí hơi, mà chọn thứ thấm hút tốt, thoáng mát và mềm mại như vải sợi. Xổ lãi định kỳ cho trẻ để diệt lãi kim. Cho uống nhiều nước để trẻ tiểu nhiều. Nước tiểu sẽ tống xuất vi khuẩn ở thành niệu đạo đang đi ngược lên bàng quang. Không có nước tiểu cũ bị ứ đọng thường xuyên trong bàng quang nên không có điều kiện để vi khuẩn trú ngu lâu. Nhìn màu nước tiểu,thấy vàng sậm và nóng là dấu hiệu lượng nước tiểu ít và ở lâu trong bàng quang. Cho trẻ ăn trái cây hay uống vitamin C. Khi đó nước tiểu bị acid hóa sẽ là điều kiện bất lợi cho vi khuẩn gây bệnh. |
Thứ Hai, 14 tháng 10, 2013
13:03
Unknown
Cháu mới 3 tháng tuổi, ho nhiều, bác sĩ chẩn đoán là viêm phế quản, có nguy hiểm không? (Kim Khanh)- BS ĐÀO XUÂN DŨNG (Chuyên khoa II, Sản phụ khoa): Bệnh viêm phế quản ở trẻ nhỏ là bệnh rất lây truyền nhưng chỉ cần biết vài động tác phòng ngừa đơn giản là có thể hạn chế.
Viêm phế quản cấp là bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp có tính chất dịch tễ và theo mùa thường xảy ra ở trẻ bú mẹ. Bệnh do một loại virus có tràn lan trong môi trường, có tính lây truyền cao và gây tổn thương ở các phế quản nhỏ của trẻ dưới 3 tháng tuổi. Dịch viêm phế quản ở trể bú mẹ thường bắt đầu từ giữa tháng 10, phát triển cao nhất vào tháng 12 và hết vào cuối mùa đông.
Virus lây truyền theo đường nước bọt, do hắt hơi, ho, tay và các vật dụng nhiễm bẩn. Như vậy, tình trạng cảm cúm của trẻ lớn và người lớn có thể là nguyên nhân gây bệnh viêm phế quản nhỏ ở các trẻ nhũ nhi.
Khuyến cáo các bậc cha mẹ: khi chăm sóc trẻ cần rửa tay sạch bằng xà phòng. Khi bị cảm, càng nên tránh hôn hít lên mặt trẻ. Mọi người trong nhà (anh chị) đều nên biết rõ những điều này, nhất là khi các cháu lại đã đến nhà trẻ hay trường học. Không nên để trẻ trong nhà dùng lẫn lộn bình sữa, thìa, chén... và sau khi dùng cần rửa sạch.
Vào mùa thu và mùa đông, cố gắng không để trẻ nhỏ lui tới những nơi công cộng (đi xe buýt, siêu thị...), nơi dễ có những người bị cảm. Không để trẻ ở nơi có khói hút thuốc lá vì có nguy cơ làm cho bệnh nặng lên. Ở nhà giữ nhiệt độ ổn định, không quá 19 độ và cần làm cho nhà thông thoáng hàng ngày. Khi trẻ bị cảm và ngạt mũi thì nên rỏ nước sinh lý vào mũi để trẻ không tắc mũi.
Làm gì khi trẻ bị bệnh? Khi bắt đầu chỉ là biểu hiện cảm và ho, sau đó biến chuyển thành khó thở và phối hợp với sự khó cho trẻ bú. Trong trường hợp trẻ có triệu chứng cần được thầy thuốc khám ngay. Bệnh viêm phế quản nhỏ thường lành tính nhưng có thể nghiêm trọng với những trẻ dưới 3 tháng.
Thầy thuốc thường làm cho trẻ bớt ứ động ở phế quản bằng liệu pháp vận động cho đường hô hấp; thường khỏi sau 5-10 ngày (nhưng có thể còn ho kéo dài thêm 2-3 tuần nữa). Trong trường hợp nặng thì cần phải nằm viện. Để tránh bị viêm phế quản, ngay khi có triệu chứng đầu tiên đã cần hỏi ý kiến thầy thuốc.
Khi chăm sóc trẻ bị bệnh: đặt trẻ nằm ngửa, đầu hơi cao. Cho trẻ uống nước đều đặn. Làm thông mũi cho trẻ, nhất là trước khi cho bú. Dùng khăn giấy và vất bỏ ngay sau khi đã dùng. Phòng trẻ phải thông thoáng, không mặc quá nhiều đồ và duy trì nhiệt độ phòng 19 độ. Tránh để trẻ ở nơi có khói thuốc lá. Chỉ khi nào trẻ hết các triệu chứng mới có thể quay lại nhà trẻ.
Tuổi Trẻ
13:02
Unknown
Khi bị ốm, sự mệt mỏi và quấy khóc của bé thường làm bạn mệt mỏi và bối rối. Sự chăm sóc của bạn đôi khi làm bé khó chịu hơn... Bạn tự hỏi mình phải làm gì đây?
Bé đang sốt cao có nên đưa cháu tới bác sĩ không?
Dù bé sốt cao, cũng vẫn có thể đưa đi được vì chỉ ở phòng khám bệnh, bác sĩ mới có nhiều phương tiện để khám bệnh cho cháu.
Có cần chăn mền cho cháu không?
Nếu cháu đang sốt, không nên đắp thêm chăn vì như thế sẽ làm thân nhiệt tăng thêm. Giữ nhiệt độ phòng từ 20oC - 22oC không để gió lùa, ở điều kiện như vậy cháu chỉ cần mặc một bộ quần áo ngủ, rộng, thoáng là đủ.
Cần săn sóc thế nào cho bé dễ chịu?
Căn phòng cần thoáng và đủ ấm.
Nếu lâu không mở cửa sổ, hãy chuyển cháu bé sang phòng khác một lát, trong khi làm vệ sinh: quét nhà, thay vải trải giường... Sau đó đóng cửa lại nếu cần để tránh gió, rồi lại chuyển cháu về.
Hàng ngày, vẫn lau mặt, cổ, rửa tay, chân cho cháu như bình thường.
Bạn có thể tắm cho cháu nhưng chú ý pha nước ở nhiệt độ 37 độ C và phòng tắm phải kín, không có gió.
Trong suốt thời gian bị ốm, cháu bé nào cũng muốn có bố hoặc mẹ, ông, bà... ở bên cạnh. Việc này làm cho bé thấy yên tâm và an ủi bé rất nhiều, mỗi khi bé bị khó chịu. Nếu nguời lớn không có điều kiện ở gần bé, có thể cho bé đồ chơi, sách có hình vẽ mầu để bé giải trí.
Không nên để bé nhận thấy nét mặt lo lắng, u sầu của người lớn về tình hình của bé.
Cần làm gì khi bé ra nhiều mồ hôi?
Nếu bé sốt và người đổ mồ hôi, thế là tốt. Vì đó là phản ứng của cơ thể để làm thân nhiệt hạ xuống. Nên lau khô mồ hôi và thay quần áo cho bé.
Có cần bắt bé nằm tại giường không?
Nếu bé thấy người mệt, bé sẽ tự động nằm nghỉ. Nhưng nếu bé không muốn nằm, thì không nên bắt buộc. Cứ để bé ngồi dậy hoặc đi lại trong phòng, đi tất cho cháu.
Đối với các cháu bị bệnh cần phải chữa trị lâu hoặc đang trong thời gian phục hồi sức khỏe, cứ để cháu chơi bình thường. Chỉ nên tránh những trò chơi làm cháu bị kích động và không cho chơi với trẻ khác để tránh sự lây nhiễm.
Chế độ ăn của trẻ bị bệnh như thế nào?
Với trẻ sơ sinh, nếu cháu không bị đi tướt có thể cho ăn như bình thường: không nên ép cháu ăn và chú ý cho cháu uống nước thêm. Nếu bé bị đi tướt, thì ngưng cho bú sữa và cho ăn theo chế độ riêng.
Với trẻ đã lớn, có thể cho ăn súp, nước rau, chuối nghiền, bánh mì nướng 2 lần, bánh bích quy. Nếu cháu có dấu hiệu khỏi bệnh, dần dần trở lại chế độ ăn bình thường.
Chú ý: Không nên ép buộc các cháu ăn
Nếu bé bị sốt, hãy cho cháu uống nhiều nước ban ngày cũng như ban đêm, vì sốt làm cơ thể các cháu thiếu nước, để cháu dễ uống, ngoài nước trắng có thể cho bé uống nước cam, nước chanh, nước súp, nước rau, nước đường v.v...
Thường các cháu thích uống nước mát hơn là nước nóng. Hãy cho các cháu uống nước mát - nhất là các cháu hay bị nôn ói. Nếu các cháu không chịu ăn thì các loại nước đường, súp, mật ong, nước cơm... cũng có thể cung cấp cho các cháu một ít calo.
Giờ giấc săn sóc như thế nào?
Nên tự quy định giờ giấc, thí dụ vào buổi sáng và 5 giờ chiều bạn sẽ đo nhiệt độ cho cháu, lau rửa mặt, ngoáy lỗ mũi, cho uống thuốc hay bôi thuốc. Việc săn sóc có giờ giấc như vậy đỡ làm cháu bị mệt hơn là phải điều trị lan man cả ngày.
Sau khi săn sóc cháu, bạn nên ghi thân nhiệt đo được lúc sáng, lúc chiều vào giấy cùng với các hiện tượng (nếu có) như: nôn ói, đi tướt, ho... để chuẩn bị nói lại cho bác sĩ biết, khi bác sĩ tới thăm, hoặc nói qua điện thoại.
Nếu bé mắc bệnh có thể lây lan, phải cách ly bé với các trẻ khác, kể cả người lớn đang mang bầu.
Chú ý: Không được để thuốc trong tầm tay của trẻ. Nhiều người để thuốc điều trị bệnh cho các cháu ở gần chỗ các cháu nằm, để tiện sử dụng. Như vậy rất nguy hiểm, nhất là đối với các cháu đang trong tuổi thấy cái gì lạ cũng cho vào miệng.
Thuốc điều trị cũng phải uống đúng liều lượng và đúng lúc.
Các cháu nhỏ thường dễ bị mầu sắc viên thuốc, hoặc vị ngọt của thuốc hấp dẫn.
Thứ Bảy, 12 tháng 10, 2013
10:48
Unknown
Trẻ em thường dễ bị cảm cúm, thuật ngữ đông y gọi là cảm mạo phong hàn. Có thể chữa bệnh này bằng các loại cây lá dễ tìm như cỏ nhọ nồi, lá tre, tía tô, kinh giới...
Dựa vào các triệu chứng, người ta chia cảm phong hàn thành 2 thể bệnh khác nhau là cảm nóng (cảm nhiệt) và cảm lạnh (cảm hàn).
Cảm nóng
Trẻ thường sốt, có khi kèm theo rét nhưng nếu đắp chăn thì thấy nóng không chịu được, ra nhiều mồ hôi, khát nước, mồm miệng khô, thích uống nước lạnh, không sợ lạnh, ho đờm đặc, có thể kèm theo chảy máu chân răng, chảy máu mũi...
Dùng bài thuốc thanh nhiệt giải biểu, gồm có các vị sau: Cỏ nhọ nồi 50 g, lá tre 10 g, cát căn 10 g, cho vào 2 bát nước, sắc nhanh đến khi cạn còn 1/2 bát thì lấy ra chia làm 2 lần uống trong ngày. Có thể dùng cỏ nhọ nồi tươi, rửa sạch, giã nát rồi vắt lấy nước uống 3-4 lần trong ngày, bã đắp lên thóp trước của trẻ cũng có tác dụng hạ sốt nhanh.
Để trẻ nằm nơi thoáng khí, yên tĩnh, ánh sáng dịu, tránh mọi kích thích. Cho trẻ mặc thoáng mát, không nên mặc nhiều quần áo hoặc ủ nóng, lau mồ hôi cho trẻ thường xuyên. Cho trẻ uống nhiều nước, nên ăn thức ăn lỏng như cháo, sữa... bảo đảm đủ chất dinh dưỡng.
Khi trẻ bị sốt cao trên 39 độ C thì ngoài bài thuốc trên, phải phối hợp thêm biện pháp hạ nhiệt khác như đắp khăn ướt lên trán, nách, bẹn và thay đổi vị trí ở chỗ khác. Cũng có thể cho trẻ uống thêm thuốc hạ nhiệt như paracetamol 10-15 mg/kg mỗi lần, ngày có thể uống 3-4 lần nếu trẻ vẫn sốt cao.
Cảm lạnh
Trẻ sốt nhưng sợ lạnh, sợ gió, đau mỏi các khớp xương, đau cơ, đau đầu, chảy nước mũi, không ra mồ hôi, có thể kết hợp với viêm mũi, viêm họng.
Dùng bài thuốc sắc gồm các vị sau: Lá tía tô 8 g, kinh giới 6 g, vỏ quýt 4 g, cam thảo 2 g, gừng tươi 2 g. Cho vào 2 bát bước, sắc nhanh cho đến khi cạn còn 1/2 bát, chia làm 2 lần uống trong ngày.
Lấy 5 lá trầu không và 4g gừng tươi, rửa sạch rồi giã nát, trộn đều hai thứ, cho thêm một ít rượu, sau đó dùng một miếng gạc sạch bọc lại và đánh dọc hai bên cột sống từ cổ xuống đến lưng.
10:46
Unknown
Đôi khi bé có thể bị viêm phổi chỉ vì thức ăn đi sai đường và mắc kẹt trong phổi. Biểu hiện thường thấy là ho liên tục, thở khò khè nhẹ trong vài ngày mà không có triệu chứng cảm lạnh hay sốt.
Ho gà
Ho gà từng là thủ phạm hàng đầu gây tử vong ở trẻ nhỏ, song giờ đây bệnh rất hiếm gặp nhờ văcxin DTP ra đời vào những năm 1960. Trong phần lớn ca bệnh, trẻ không hề có triệu chứng sốt hay cảm lạnh.
Bệnh thường gặp vào mùa đông, xuân và rất dễ lây. Ho gà có thể dẫn đến các biến chứng như viêm phế quản - phổi, viêm não, viêm tai giữa..., thậm chí tử vong. Thủ phạm gây bệnh là vi khuẩn ho gà (Hemophyllus pertussis) và các vi khuẩn phó ho gà (H. parapertussis). Trong thời kỳ đầu, bệnh biểu hiện giống như cảm cúm: chảy nước mũi, nghẹt mũi, ho, hắt hơi, đau họng
Từ giọt nước bọt của người ốm bắn ra khi ho, hắt hơi, nói, vi khuẩn xâm nhập cơ thể trẻ, đến cư trú và phát triển ở khí quản và các phế quản lớn, nhỡ. Tại đây, vi khuẩn gây viêm hoại tử niêm mạc khí quản, phế quản, kích thích bài tiết chất nhày, làm xuất hiện những cơn co thắt phế quản và cơn ho rũ. Độc tố của vi khuẩn cũng ức chế trung tâm hô hấp ở hành tủy, gây ra những cơn ngừng thở.
- Tiếng ho nghe to và nhanh
- Các triệu chứng khác:
* Phù quanh hốc mắt
* Mặt biến sắc
* Ho mỗi lúc một tăng dần, ho cả ngày và kéo dài hơn về đêm, uống thuốc giảm ho không đỡ.
* Loét hăm lưỡi
* Sốt
* Mặt biến sắc
* Ho mỗi lúc một tăng dần, ho cả ngày và kéo dài hơn về đêm, uống thuốc giảm ho không đỡ.
* Loét hăm lưỡi
* Sốt
- Cách trị: cho trẻ uống kháng sinh đặc hiệu, nên dùng sớm để rút ngắn thời gian bệnh, giảm lây lan và biến chứng. Giảm ho và cắt cơn ho bằng thuốc an thần, thuốc kháng histamin. Phòng ngừa vẫn là biện pháp quan trọng nhất nên phải đảm bảo trẻ được tiêm chủng đầy đủ.
Viêm cuống phổi hay hen suyễn?
Cảm lạnh, ho và chảy nước mắt nước mũi đều là những dấu hiệu ban đầu của chứng viêm cuống phổi và bệnh hen suyễn, do đó rất khó phân biệt. Thậm chí triệu chứng thở khò khè hoặc co thắt đường thở cũng không hẳn là do hen suyễn. Nguyên nhân đôi khi có thể là yếu tố môi trường như bụi, tiến sĩ Ruffin Franklin, Trung tâm y tế North Carolina (Mỹ) cho biết.
Hen suyễn không phổ biến ở trẻ dưới 2 tuổi, trừ khi bé bị chàm bội nhiễm (eczema) và có tiền sử dị ứng hoặc hen suyễn trong gia đình.
Trong trường hợp hen suyễn, trẻ sơ sinh sẽ có thể bắt đầu với:
* Triệu chứng cảm lạnh
* Ngứa và chảy nước mắt
Ngoài ra, bé có thể bị co thắt ngực và cơ hoành. Cần theo dõi nhịp thở của trẻ. Nếu quá nhanh (trên 50 nhịp trong một phút), thì con đang gặp nguy hiểm. Gọi cấp cứu ngay.
Ngoài ra, bé có thể bị co thắt ngực và cơ hoành. Cần theo dõi nhịp thở của trẻ. Nếu quá nhanh (trên 50 nhịp trong một phút), thì con đang gặp nguy hiểm. Gọi cấp cứu ngay.
Tốt nhất là gọi bác sĩ khi nghe thấy con thở khò khè. Bác sĩ thường kê đơn các thuốc hen suyễn để trị cơn khó thở, ví dụ như thuốc hen dạng lỏng albuterol. Có thể dùng albuterol dang phun sương để bé hít dễ hơn trong trường hợp khẩn cấp.
Trong khi đó, viêm cuống phổi nhỏ ở trẻ dưới 1 tuổi xảy ra phổ biến hơn và nguyên nhân là do virus hợp bào hô hấp (RSV) xâm nhập vào phổi và đe dọa tính mạng. Ở trẻ trên 3 tuổi, virus chỉ gây cảm lạnh thường. Viêm cuống phổi nhỏ thường gặp vào mùa thu đông và có thể đi kèm:
* Sốt nhẹ
* Chán ăn
- Tiếng ho đi kèm tiếng khò khè
- Tốt nhất là gọi ngay cho bác sĩ nếu trẻ ho rũ rượi, khó thở và nghiêm trọng hơn sau 1-2 ngày. Trong khi đó, hãy cho bé uống nhiều nước, nghỉ ngơi và dùng máy làm ẩm không khí.
Ho do thức ăn
Miếng cà rốt hay xúc xích nhỏ đôi khi có thể là nguyên nhân gây tắc nghẹt đường thở và gây ho. Khi thấy trẻ tự dưng há hốc miệng hoặc ho trong khi ăn hoặc chơi đồ chơi, hãy tìm thủ phạm ngay trong miệng bé. Thường thì bé có thể ho bật vật lạ ra.
- Tiếng ho nghe nhỏ. Trẻ có tiếng ho liên tục hoặc thở khò khè nhẹ trong vài ngày mà không thấy sốt hay cảm lạnh. Nếu vật lạ gây tắc nghẽn hoàn thoàn đường thở, trẻ có biểu hiện sau:
* Mệt mỏi rõ rệt
* Thần người ít nói
* Mặt dần nhợt nhạt, tái mét
* Thần người ít nói
* Mặt dần nhợt nhạt, tái mét
Trong trường hợp này, hãy dốc ngược bé và vỗ 5 phát vào lưng ở phần giữa hai vai. Nếu không có hiệu quả, gọi cấp cứu ngay.
Nếu vật chỉ làm nghẽn một phần, cố giúp bé ho ra:
* Cho bé hơi cúi đầu xuống
* Vỗ nhẹ vào lưng
Nếu bé không thể tự ho bật ra, phải cho chụp x-quang ngay. Bác sĩ có thể chỉ định soi phế quản - một thủ thuật trong đó bệnh nhân được gây mê toàn bộ, và một ống sợi quang nhỏ gắn đầu gắp sẽ được luồn vào đường thở và lấy vật lạ ra.
* Vỗ nhẹ vào lưng
Nếu bé không thể tự ho bật ra, phải cho chụp x-quang ngay. Bác sĩ có thể chỉ định soi phế quản - một thủ thuật trong đó bệnh nhân được gây mê toàn bộ, và một ống sợi quang nhỏ gắn đầu gắp sẽ được luồn vào đường thở và lấy vật lạ ra.
Thứ Năm, 10 tháng 10, 2013
23:44
Unknown
Viêm phế quản - phổi là bệnh viêm cấp tính các phế quản nhỏ, phế nang và tổ chức quanh phế nang. Thường viêm rải rác cả hai phổi nên bệnh rất nặng và gây suy hô hấp. Bệnh thường gặp vào mùa đông, tiến triển nặng, dễ dẫn đến tử vong.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thì nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính chiếm 50% toàn thể các bệnh ở trẻ em dưới 5 tuổi và 30% ở trẻ từ 5-12 tuổi. Tỷ lệ tử vong 75% trong các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính.
Cũng theo WHO, tổng số tử vong/năm ở trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn thế giới do mọi nguyên nhân là 13 triệu, trong số này viêm phổi chiếm 30% (4,3 triệu). Ở Việt Nam, một trẻ em có thể mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính từ 3-5 lần/năm (tức 8-10 triệu lần trẻ mắc), là nguyên nhân tử vong hàng đầu trong các bệnh về đường hô hấp.
Nguyên nhân
Do vi khuẩn Hemophilus influenzae rồi đến tụ cầu, liên cầu, ký sinh trùng, nấm, virus cúm.
Yếu tố thuận lợi
- Khí hậu lạnh, thời tiết thay đổi vào các tháng đông - xuân.
- Trẻ nhỏ, trẻ đẻ non, trẻ suy dinh dưỡng.
- Viêm phế quản còn gặp ở người già yếu, người bị suy giảm miễn dịch.
- Trẻ nhỏ, trẻ đẻ non, trẻ suy dinh dưỡng.
- Viêm phế quản còn gặp ở người già yếu, người bị suy giảm miễn dịch.
Nguyên nhân: ô nhiễm môi trường, nhà cửa ẩm thấp, khói thuốc lá. Cơ địa dị ứng hoặc trẻ đang mắc các bệnh sởi, cúm, ho gà.
Những biểu hiện khi bị viêm phế quản - phổi:
- Trẻ thường sốt cao 38-39o.
- Người già và trẻ suy dinh dưỡng có khi không sốt.
- Bệnh nhi thường mệt mỏi, quấy khóc, môi khô, bú ít hoặc bỏ bú.
- Lúc đầu ho khan, sau ra nhiều đờm rãi, trẻ em không biết khạc đờm thường nuốt.
- Khó thở ậm ạch, thở nhanh nông trên 50 lần/phút; cánh mũi phập phồng, lồng ngực co rút, môi và đầu chi tím tái, khi bệnh nặng thì có thể rối loạn nhịp thở.
- Nghe phổi có ran ẩm, ran rít, ran ngáy rải rác ở một hoặc hai bên phổi.
- Xquang có nốt mờ rải rác ở hai phổi.
- Xét nghiệm máu, bạch cầu đa nhân trung tính tăng cao.
- Người già và trẻ suy dinh dưỡng có khi không sốt.
- Bệnh nhi thường mệt mỏi, quấy khóc, môi khô, bú ít hoặc bỏ bú.
- Lúc đầu ho khan, sau ra nhiều đờm rãi, trẻ em không biết khạc đờm thường nuốt.
- Khó thở ậm ạch, thở nhanh nông trên 50 lần/phút; cánh mũi phập phồng, lồng ngực co rút, môi và đầu chi tím tái, khi bệnh nặng thì có thể rối loạn nhịp thở.
- Nghe phổi có ran ẩm, ran rít, ran ngáy rải rác ở một hoặc hai bên phổi.
- Xquang có nốt mờ rải rác ở hai phổi.
- Xét nghiệm máu, bạch cầu đa nhân trung tính tăng cao.
Xử trí khi bị viêm phế quản - phổi
Nếu được phát hiện và điều trị sớm, bệnh sẽ lui dần. Thường bệnh viêm phế quản - phổi là bệnh rất nặng, điều trị muộn có thể dẫn đến tử vong. Khi bị viêm phế quản - phổi ở trẻ em hay người già cần được theo dõi ở các cơ sở y tế. Nếu nặng cần đưa đi bệnh viện và điều trị bằng các biện pháp sau:
- Chống nhiễm khuẩn bằng kháng sinh như penicillin, erythromycin, methixilin, các cefalosporin thế hệ II, III, nhóm quinolon... Kết hợp hai hay ba loại kháng sinh khi cần thiết.
- Khó thở, suy hô hấp thì cho thở ôxy.
- Điều trị các rối loạn điện giải tim mạch, nôn trớ, nếu có.
- Chăm sóc toàn diện: ủ ấm, ăn sữa, uống nước đủ hằng ngày. Giảm ho bằng uống thuốc dân gian như hoa hồng bạch hấp với đường phèn hay nước sắc lá cây rẻ quạt còn gọi là cây xạ căn. Nếu sốt cao dùng thuốc hạ nhiệt như paracetamol.
Phòng bệnh
- Cho trẻ bú mẹ, ăn đủ chất để nâng cao thể trạng.
- Giữ vệ sinh môi trường, vệ sinh trong nhà trẻ, nhà trường, nhà hộ sinh. Tiêm chủng mở rộng phòng bệnh cho trẻ em theo đúng quy định.
- Không hút thuốc lá trong buồng ngủ có trẻ, trong nhà trẻ.
- Nếu phát hiện có dịch sởi, ho gà, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay là dịch cúm gia cầm, phải kịp thời cách ly để tránh lây cho trẻ khác, vì các bệnh này là một trong những nguyên nhân gây biến chứng viêm phế quản - phổi.
09:56
Unknown
Chứng ho lâu ngày là một bệnh nhiễm trùng đường hô hấp do vi khuẩn gây ho lâu ngày Bordetella gây ra. Chứng bệnh này được miêu tả với các đặc trưng ho nhiều, dẫn đến ho khúc khắc khi người bệnh hít thở. Tại Mỹ, căn bệnh này giết 5.000-10.000 người mỗi năm.
Hiện nay vaccine ngừa ho lâu ngày đã giúp giảm số tử vong vì căn bệnh này xuống 30%. Mặc dù ho lâu ngày có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng đối tượng nó thường tấn công là trẻ không được chủng ngừa và trẻ sơ sinh dưới 1 tuổi. Theo thống kê, khoảng 40% trong số các ca nhiễm trùng gây ho lâu ngày xảy ra ở trẻ dưới 1 tuổi, 15% xảy ra ở trẻ trên 15 tuổi. Một nửa trong số các ca tử vong do ho lâu ngày nằm trong nhóm trẻ sơ sinh dưới 1 tuổi, và các biến chứng nghiêm trọng cũng thường xảy ra ở nhóm này. Trong những năm qua, bệnh ho lâu ngày cũng đang tăng lên ở nhóm thanh thiếu niên và người lớn. Việc chủng ngừa sớm có thể ngăn được bệnh này. Dấu hiệu và triệu chứng Các triệu chứng đầu tiên của chứng ho lâu ngày thường giống với bệnh cảm lạnh thông thường, bao gồm: - Chảy nước mũi - Hắt hơi - Ho nhẹ - Sốt nhẹ Sau khoảng 1-2 tuần, triệu chứng ho khan, rát chuyển thành ho từng đợt, mỗi đợt có thể kéo dài hơn 1 phút, có thể khiến cho trẻ trở nên đỏ hoặc da có màu như xuất huyết. Cuối mỗi cơn ho, trẻ có thể phát ra âm thanh ho khúc khắc khi thở hoặc có thể nôn mửa. Giữa các cơn ho, trẻ thường cảm thấy dễ chịu. Các con đường lây lan của bệnh Chứng ho lâu ngày có nguy cơ lây lan cao. Vi khuẩn lây từ người này sang người khác qua chất dịch từ mũi hay miệng của người nhiễm bệnh khi người bệnh ho, hắt hơi hay cười to. Những người khác sau đó có thể bị nhiễm bệnh do hít phải các chất dịch này hoặc khi các chất này bám vào tay họ và họ vô tình chạm tay vào mũi hay miệng mình. Người nhiễm bệnh thường lây bệnh ở giai đoạn đầu của bệnh đến khoảng 2 tuần sau khi bắt đầu bị ho. Thời gian ủ bệnh Thời gian ủ bệnh thường từ 7-10 ngày, cũng có thể kéo dài đến 21 ngày. Thời gian kéo dài bệnh Ho lâu ngày có thể gây ra nhiều triệu chứng kéo dài. Triệu chứng đầu tiên là trẻ thường bị cảm lạnh từ 1-2 tuần. Sau đó là ho từ 2-4 tuần, đôi khi lâu hơn. Giai đoạn cuối bao gồm nhiều tuần để hồi phục từ từ. Trong một số trường hợp, trẻ có thể phải mất đến nhiều tháng mới hồi phục hẳn. Ngăn ngừa bệnh Chứng ho lâu ngày có thể được ngăn ngừa bằng cách tiêm vaccine, với 5 liều tiêm dành cho trẻ cho đến khi trẻ lên 6 tuổi. Các chuyên gia tin rằng có đến 80% những thành viên trong gia đình không được tiêm ngừa mắc bệnh ho lâu ngày nếu họ sống chung nhà với người mắc bệnh này. Vì lý do này mà bất cứ người nào có tiếp xúc gần với bệnh nhân ho lâu ngày cũng nên dùng kháng sinh để ngừa bệnh lây lan. Riêng trẻ nhỏ không nhận đủ 5 liều vaccine có thể yêu cầu một liều tăng cường nếu trong nhà có người bị bệnh. Tuổi Trẻ
09:53
Unknown
Viêm tiểu phế quản là bệnh rất phổ biến ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Trong trường hợp nghiêm trọng, trẻ có thể phải nhập viện và cần sự hỗ trợ của máy thở và thuốc kháng virus.
Nguyên nhân gây bệnh? Thủ phạm gây viêm tiểu phế quản là virus hợp bào hô hấp (RSV), thường gieo bệnh cho trẻ dưới 2 tuổi vào mùa đông và đầu xuân. Ở người già, bệnh có biểu hiện như chứng cảm lạnh thường. Triệu chứng điển hình của viêm tiểu phế quản ở trẻ gồm: - Ho - Khò khè - Khó thở - Ra nhiều mủ nhầy - Ăn uống kém Điều trị viêm tiểu phế quản bằng cách nào? Thuốc kháng sinh không có tác dụng trong trường hợp này, vì viêm tiểu phế quản do virus gây nên. Một loại thuốc kháng virus có tên là ribavirin có thể giúp trị bệnh, song dược liệu này không phổ biến vì có nguy cơ gây phản ứng phụ và thiếu tính thực tế trong sử dụng. Do đó, cách đối phó tốt nhất là hỗ trợ và dựa vào mức độ nghiêm trọng của bệnh. Phần lớn trẻ nhỏ viêm tiểu phế quản RSV nhẹ thường bị ho và khò khè một chút, song nhìn chung vẫn ăn uống tốt và không cần sự hỗ trợ của máy thở hay viên thuốc nào. Trong một vài ngày, bệnh sẽ tự khỏi. Trong trường hợp nghiêm trọng, trẻ sẽ thấy khó chịu vì triệu chứng thở khò khè và ra nhiều dịch nhầy, ngăn cản không khí tới các phế nang của phổi. Lúc này, trẻ cần thêm oxy, hoặc thậm chí phải dùng đến salbutamol - dược liệu làm giãn cơ phổi dùng trong bệnh hen suyễn. Một khâu quan trọng trong điều trị viêm tiểu phế quản là hút hết dịch nhầy, và việc này cần phải tới bệnh viện. Có phải trẻ nào cũng dễ mắc bệnh? Trẻ sơ sinh và những em gặp sự cố về hô hấp hoặc tim mạn tính có nguy cơ bị viêm tiểu phế quản nặng. Đã có văcxin đặc biệt dành riêng cho trẻ có nguy cơ cao. Hãy tham vấn bác sĩ về loại văcxin này. Có phải viêm tiểu phế quản sẽ phát triển thành hen suyễn? Một số người hiểu nhầm rằng viêm tiểu phế quản chắc chắn sẽ trở thành hen suyễn, nguyên nhân có thể do chúng có triệu chứng giống nhau. Cần biết rằng hen suyễn được định nghĩa là tình trạng tái diễn các cơn khò khè, ho và khó thở ở những trẻ không bị mắc bệnh phổi nào khác. Một số chuyên gia cho rằng những trẻ có di truyền dị ứng hoặc hen suyễn rất dễ bị nhiễm khuẩn RSV, trong khi số lại nói RVS có thể kích thích phát triển bệnh hen suyễn. Dù ở trường hợp nào, hiện tượng tái diễn bệnh là yếu tố quyết định. Nghĩa là nếu trẻ có biểu hiện tái phát triệu chứng nhiều lần thì đó có thể bệnh hen suyễn, còn nếu không tái phát thì đó là viêm tiểu phế quản.
Thứ Tư, 9 tháng 10, 2013
09:48
Unknown
Loại bệnh lý này có thể gặp ở bất cứ lứa tuổi nào, rất dễ xảy ra ở trẻ dưới 5 tuổi và là nguyên nhân gây tử vong cao ở trẻ em. Mỗi năm thế giới có hơn 4 triệu trẻ dưới 5 tuổi chết do chứng này.
Ở Việt Nam, nhiễm khuẩn cấp đường hô hấp chiếm 30-40% số bệnh nhi vào điều trị ở các bệnh viện; tỷ lệ tử vong lên đến 20-25% số trẻ mắc bệnh. Nhiễm khuẩn cấp đường hô hấp trên (mũi, xoang mũi, họng và thanh quản) Bệnh cảnh hay gặp nhất là cảm lạnh, viêm mũi, viêm họng, viêm hạch hạnh nhân (amiđan), bệnh bạch hầu. Ở nước ta, trẻ em thường mắc các bệnh này vào mùa đông xuân, lúc khí hậu lạnh và ẩm, mỗi năm có thể mắc vài lần. Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là nhiễm virus, vi khuẩn, có khi phối hợp cả hai. Nếu bệnh nhẹ, triệu chứng chủ yếu là chảy nước mũi trong, hắt hơi, ho nhẹ, khô hốc mũi, khó chịu trong họng. Trường hợp nặng hơn, ngoài các dấu hiệu trên, trẻ rất mệt mỏi, sốt 38-38,5 độ C, có khi sốt cao hơn và co giật, khó thở, bỏ bú hoặc bỏ ăn. Bệnh kéo dài khoảng vài ngày đến 2 tuần, sau đó các triệu chứng nhẹ dần và khỏi hẳn. Phụ huynh thường không chú ý đến những nguyên nhân gây bệnh nên thường nhầm là cảm cúm. Các trường hợp nặng và kéo dài có thể gây các biến chứng như viêm tai giữa (sốt cao không giảm, do tai đau nên quấy khóc, ngoẹo đầu sang một bên, sau đó tai chảy mủ), có thể nhiễm khuẩn lan xuống đường hô hấp dưới gây viêm phổi. Có những trường hợp bị viêm thanh quản cấp làm cho khoang thanh quản bị sưng phù, lượng không khí vào phổi giảm rõ rệt, xuất hiện tình trạng “thở khó khi hít vào”, ho và khản tiếng. Viêm họng do liên cầu khuẩn nhóm A không được điều trị kịp thời có thể gây thấp khớp cấp và thấp tim, phải điều trị lâu dài. Nhiễm khuẩn cấp đường hô hấp dưới (phế quản, phổi và phế nang) Nguy hiểm nhất là viêm phổi, vì đó là nguyên nhân gây tử vong cao cho trẻ và người cao tuổi. Trẻ 2-5 tuổi hay bị viêm phổi nhất. Bệnh thường phát sinh vào mùa đông-xuân, khi nhiệt độ thay đổi đột ngột. Nguyên nhân thường là vi khuẩn và virus, hiếm khi do nấm, mốc, động vật đơn bào. Có những trường hợp khởi đầu bị nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, không chữa trị kịp thời nên biến chứng lan vào phổi. Dấu hiệu thông thường của viêm phổi là sốt. Có trường hợp bắt đầu bằng cơn rét run, sau đó sốt mới xuất hiện, tiếp theo là tức ngực và ho, lúc đầu ho khan, về sau có đờm, ho làm tức ngực tăng thêm. Bệnh nhân khó thở, nhịp thở tăng nhanh, mạch nhanh, mệt mỏi, chán ăn. Các dấu hiệu viêm phổi ở người cao tuổi có khi không rõ rệt, sốt nhẹ hơn và đôi lúc có biểu hiện tâm thần như lú lẫn, chán ăn. Đối với trẻ nhỏ, sốt cao thường đột ngột (39-40 độ C), trẻ thở nhanh, ho khan, về sau mới có đờm, khó thở và nghe tiếng rít; mặt đỏ hoặc tím tái, có khi co giật, trướng bụng, nước tiểu ít và màu sẫm. Mỗi khi thấy trẻ dưới 1-2 tuổi có hiện tượng mệt mỏi, chán ăn thì phải chú ý ngay xem có sốt, ho, co giật không, giấc ngủ có bị lơ mơ, lồng ngực có co rút không, tiếng thở có khò khè không. Cần xem nhịp thở. Nếu nhịp thở trên 60 lần/phút với trẻ dưới 2 tháng tuổi, trên 50 lần/phút với trẻ 3-12 tháng tuổi, trên 40 lần/phút với trẻ 1-5 tuổi nghĩa là nhanh so với bình thường. Nếu thấy những dấu hiệu này, phải nghĩ đến viêm phổi cấp và đưa trẻ đến khám bác sĩ ngay để được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Việc sử dụng thuốc men, nhất là các kháng sinh, phải theo đúng chỉ định của thầy thuốc để tránh mọi nguy hiểm có thể xảy ra. Khi bị viêm phổi, ngoài thuốc do bác sĩ chỉ định, thì việc chăm sóc trẻ hết sức quan trọng. Phải cho trẻ nằm nghỉ tại giường, nơi thoáng khí nhưng không có gió lùa. Những ngày đầu cho ăn thức ăn lỏng và loãng, hợp khẩu vị, uống thêm nước hoa quả. Phải giữ hai lỗ mũi thông. Thường xuyên cứ 1-2 giờ lại lật người sang trái, sang phải một lần để thay đổi tư thế, phòng loét. Khi bệnh đã giảm vẫn phải tiếp tục cho trẻ nghỉ ngơi, cho ăn thêm bữa phụ, tăng các thức ăn giàu dinh dưỡng để bệnh chóng khỏi hơn. Cách phòng tránh nhiễm khuẩn cấp đường hô hấp Tích cực luyện tập và có chế độ dinh dưỡng hợp lý để tạo sức đề kháng với bệnh. Thường xuyên hoạt động ngoài trời, không nên để trẻ suốt ngày ở trong nhà thiếu ánh nắng. Mùa hè nên tắm rửa bằng nước lạnh để tạo khả năng thích ứng của cơ thể với sự thay đổi nhiệt độ. Mùa đông cần giữ ấm đầu, cổ, ngực và hai chân. Trong nhà trẻ, nếu phát hiện một cháu bị nhiễm khuẩn cấp đường hô hấp hoặc bệnh truyền nhiễm như sởi, ho gà... thì phải cách ly suốt thời gian có khả năng lây truyền. Người lớn không được hút thuốc lá tại nơi trẻ ngủ. Trong năm đầu sau khi sinh, trẻ phải được tiêm phòng một số bệnh hay lây truyền như sởi, ho gà, bạch hầu, uốn ván, bại liệt, lao. (Theo Sức Khỏe & Đời Sống)
09:46
Unknown
Bệnh ho ở trẻ em không chỉ gây "đau đầ"u cho các bậc cha mẹ mà ngay cả bác sĩ cũng phải hết sức cẩn thận khi điều trị. Các loại ho Ho có nhiều nguyên nhân.
Khi khám một trẻ bị ho, bác sĩ phải hỏi đặc tính của cơn ho, nếu được nghe trẻ ho càng tốt. Nhìn cách thở của trẻ cũng giúp bác sĩ chẩn đoán được trẻ ho vì bệnh gì. Có nhiều loại ho: do cảm cúm, do dị ứng, do viêm phổi, viêm cuống phổi, do mủ ở màng phổi, ho gà, ho lao... Khi nào trẻ ho mà có nóng hoặc ho dai dẳng thì phải đưa đến bác sĩ khám ngay. Tuy nhiên, không phải cứ nghe bé ho là xin chụp hình phổi. Cần "tôn trọng" cơn ho của trẻ . Ðừng tìm cách dập tắt cơn ho tức khắc mà không biết nguyên nhân cụ thể. Trong trường hợp là ho "gió", ho "cảm" chút đỉnh thì cần để cho trẻ ho. Ngay cả trường hợp bị viêm phổi hay viêm cuống phổi, vẫn để bé ho tự nhiên để tống đàm nhớt ra ngoài cho dễ thở và bớt nhiễm độc. Ho vì viêm phổi mà chỉ uống thuốc ho thì bệnh càng nặng thêm. Bác sĩ chỉ cho uống thuốc ho khi thấy cơn ho làm bé mệt nhiều và mất ngủ khiến bé suy nhược. Ðiều trị + Ho không phải là bệnh, mà chỉ là một triệu chứng của nhiều căn bệnh khác. Do đó phải cần chữa đúng bệnh trước tiên, sau đó mới chữa ho. + Trong trường hợp trẻ bị ho tím tái ở môi, ở đầu ngón tay, ngón chân và khó thở (thở nhanh, dồn dập trên 60 lần/phút), có tiếng khò khè và co kéo cơ hô hấp ở cổ xuống sườn là những trường hợp nặng, phải đưa vào bệnh viện cấp cứu ngay. + Khó thở luôn là dấu hiệu báo động, phải cần đưa bé đến ngay các cơ sở y tế gần nhất. Nên khám bệnh ngay khi trẻ có các triệu chứng nóng, ho kèm khó thở. Phải chữa tới nơi tới chốn, đừng để bệnh kéo dài, tái đi tái lại làm trẻ mất sức. Khi điều trị săn sóc tại nhà, phải: - Cho uống thuốc theo toa bác sĩ. Giữ vệ sinh tổng quát.Hút đàm nhớt cho trẻ. Nếu không, đàm nhớt sẽ làm trẻ nghẹt thở. Chỉ nên cho trẻ ăn ít, nhưng nhiều lần trong ngày. Nên cho ăn thức ăn đặc. Nếu bị ói thì ngay sau khi trẻ ói xong, nên cho ăn lại liền, trẻ sẽ không bị ói nữa. - Dùng một cuộn băng, băng chặt bụng cũng giúp trẻ giảm cơn ho. - Nên giữ ấm cho trẻ. Ðề phòng những cơn lạnh đột ngột. - Không nên cho trẻ uống thuốc ho của người lớn vì thuốc ho của người lớn thường có chất á phiện, trẻ có thể bị chết vì trúng độc Bác sĩ Ðỗ Hồng Ngọc
Thứ Ba, 8 tháng 10, 2013
09:47
Unknown
Bệnh chàm là một bệnh da dị ứng. 1. Thể bệnh - Chàm thể tạng, cơ địa dị ứng, xảy ra từ bé. - Chàm nhiễm khuẩn, xuất hiện quanh vết thương nhiễm khuẩn.
- Chàm tiếp xúc, do kích thích của chất tiếp xúc. - Chàm da mỡ, tăng tiết chất bã, thường ở vùng ngực, lưng, rãnh mũi. 2. Biểu hiện - Mụn nước từng đám trên nền da đỏ do viêm phù. - Mụn nước vỡ, rẻ nước vàng. - Ngứa, gãi nhiều, da dày lên. - Diễn biến nhiều đợt. - Có thể có biểu hiện kèm theo: + Tiêu chảy. + Hen. + Viêm mũi họng. + Bội nhiễm chỗ chàm gãi. + Viêm thận. 3. Điều trị - Tại chỗ + Bôi hồ nước (kẽm ôxyt, bột tan, glycerin, nước). + Đắp dung dịch Jarish (giai đoạn còn chảy nước). + Bôi mỡ Goudron 5% (giai đoạn mạn tính). + Mỡ Sicorten (chàm mạn tính); Flucinar. + Rửa sạch, lau khô. - Toàn thân + Giảm cảm ứng, chống ngứa : phenergan 1%, Promethazin. + Chăm sóc dinh dưỡng. + Uống nhiều nước nếu kèm theo tiêu chảy. + Chữa biểu hiện kèm theo.
- Chàm tiếp xúc, do kích thích của chất tiếp xúc. - Chàm da mỡ, tăng tiết chất bã, thường ở vùng ngực, lưng, rãnh mũi. 2. Biểu hiện - Mụn nước từng đám trên nền da đỏ do viêm phù. - Mụn nước vỡ, rẻ nước vàng. - Ngứa, gãi nhiều, da dày lên. - Diễn biến nhiều đợt. - Có thể có biểu hiện kèm theo: + Tiêu chảy. + Hen. + Viêm mũi họng. + Bội nhiễm chỗ chàm gãi. + Viêm thận. 3. Điều trị - Tại chỗ + Bôi hồ nước (kẽm ôxyt, bột tan, glycerin, nước). + Đắp dung dịch Jarish (giai đoạn còn chảy nước). + Bôi mỡ Goudron 5% (giai đoạn mạn tính). + Mỡ Sicorten (chàm mạn tính); Flucinar. + Rửa sạch, lau khô. - Toàn thân + Giảm cảm ứng, chống ngứa : phenergan 1%, Promethazin. + Chăm sóc dinh dưỡng. + Uống nhiều nước nếu kèm theo tiêu chảy. + Chữa biểu hiện kèm theo.
Thứ Hai, 7 tháng 10, 2013
11:52
Unknown
Hiện nay, dịch sốt xuất huyết sắp lên tới đỉnh điểm. Các chuyên gia Bệnh viện Nhi đồng I, TP HCM, khuyến cáo các bà mẹ cần nhận biết dấu hiệu sốt xuất huyết ở trẻ để đưa con em đến ngay cơ sở y tế.
Theo đó, các bà mẹ cần nghĩ ngay đến việc trẻ bị sốt xuất huyết khi có triệu chứng: 1. Sốt cao (39-41độ C), đột ngột và liên tục từ 2-7 ngày. 2. Xuất huyết: Chấm huyết ở da, chảy máu mũi, chảy máu chân răng, ói máu, tiêu ra máu, vết bầm chỗ chích. 3. Trẻ kêu đau bụng (do gan bị sưng). 4. Truỵ mạch (sốc): Nếu trẻ đã hết sốt, nhưng còn ly bì, bứt rứt, lạnh tay chân, tím môi, tiểu ít sẽ rất dễ dẫn đến tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời. Ngay khi gặp các dấu hiệu trên, phụ huynh cần cho trẻ uống thuốc hạ sốt (paracetamol), lau mát bằng nước ấm. Nên cho trẻ ăn thức ăn lỏng dễ tiêu, tránh thức ăn, nước uống có màu đen, đỏ, nâu (vì nếu trẻ ói mửa sẽ dễ nhầm lẫn là máu). Người thân cũng nên khuyến khích trẻ uống nhiều nước. Tránh tuyệt đối: Không cho trẻ uống aspirin; kiêng cữ ăn uống hoặc quấn trẻ bằng nhiều quần áo. Phần lớn nguyên nhân gây tử vong của 33 trường hợp sốt xuất huyết tính đến ngày 17/6 là do nhập viện muộn. Trong số đó, hơn 90% số ca tử vong dưới 15 tuổi. Tính đến nay có hơn 17.700 ca nhiễm sốt xuất huyết. Riêng khu vực miền Nam có hơn 15.000 ca, 30 trường hợp tử vong. Hầu hết trường hợp tử vong thường trong vòng 48 giờ sau khi đến viện (74,2%). So với cùng kỳ năm 2003, số mắc tăng 79,5%, tử vong tăng 11 trường hợp. Tỷ lệ tử vong như sau: Sóc Trăng 7/2560 ca; TP HCM 2/2442 ca; Tiền Giang 5/1488 ca; Đồng Tháp 4/1340 ca
11:50
Unknown
Viêm não Nhật Bản được biết đến từ năm 1871, nhưng mãi tới năm 1935 mới được phân lập từ người bệnh ở Tokyo (Nhật Bản). Sau đó, bệnh hoành hành và gây dịch tại các đảo phía Tây Thái Bình Dương, các nước Bắc Á, Đông Nam Á... trong đó có Việt Nam.
Ở Việt Nam, trong những năm 80 và đầu thập kỷ 90, tỷ lệ mắc bệnh khá cao (7/100.000 dân). Nhưng từ năm 1993, nhất là từ năm 1997, khi văcxin viêm não Nhật Bản được đưa vào dự án Tiêm chủng mở rộng cho trẻ em lứa tuổi 1-5, tỷ lệ mắc bệnh đã giảm đáng kể. Bệnh có thể xuất hiện rải rác quanh năm, nhưng vào các tháng 5, 6 và 7, tỷ lệ mắc bệnh đặc biệt tăng cao. Trong khi nhiều bậc cha mẹ lại không biết được nguyên nhân cũng như triệu chứng của bệnh. Xin cung cấp tới bạn đọc những hiểu biết cần thiết nhất về căn bệnh nguy hiểm này để các bạn có cách phòng tránh và xử trí kịp thời. Viêm não Nhật Bản là bệnh gì? Đây là một bệnh nhiễm trùng cấp tính gây tổn thương hệ thần kinh trung ương. Virus viêm não Nhật Bản chính là tác nhân gây bệnh. Bệnh gặp chủ yếu ở trẻ em dưới 15 tuổi, đặc biệt nhóm nguy cơ cao nhất là trẻ ở lứa tuổi 2-6 (chiếm 75% tổng số trẻ mắc bệnh). Phương thức lây truyền Khởi đầu từ các ổ chứa virus mà lợn là động vật đóng vai trò chính. Khi muỗi hút máu của lợn có chứa virus và sau đó đốt người sẽ truyền virus sang người. Đây là con đường duy nhất khiến lây nhiễm bệnh viêm não Nhật Bản. Cho tới nay chưa thấy có sự lây truyền bệnh từ người sang người. Cần lưu ý là: Sau khi bị nhiễm virus viêm não Nhật Bản, lợn không bị bệnh, nhưng nguy hiểm ở chỗ nó trở thành kho chứa, duy trì virus trong thiên nhiên, đồng thời lại là nguồn cung ứng quan trọng nhất cho muỗi đưa virus viêm não Nhật Bản lây sang người. Có nhiều loài muỗi có khả năng truyền bệnh, nhưng chủ yếu vẫn là hai loài muỗi Culex Tritaeniorhynchus và Culex vishnui. Hai loài muỗi này thường sống ở ruộng lúa nước và chập choạng tối sẽ bay đến nơi có người và súc vật sinh sống để hút máu. Biểu hiện của bệnh Bệnh khởi đầu với biểu hiện sốt và thường là sốt rất cao (39-40oC). Người bệnh còn có các biểu hiện kèm theo như rét run, đau đầu, mệt lả, buồn nôn hoặc nôn. Giai đoạn này kéo dài từ 1 đến 6 ngày. Tiếp đến là các biểu hiện rất điển hình như tiếp tục sốt cao kèm co giật, rối loạn ý thức, kích thích, vật vã, ngủ gà, lơ mơ, hôn mê rồi đau đầu, cứng gáy, tay chân quờ quạng, mất nước. Hậu quả nặng nề Viêm não Nhật Bản là một trong những bệnh để lại di chứng đặc biệt nặng nề. Bệnh gây tử vong cao (10-20%) hoặc di chứng thần kinh lớn như động kinh, giảm học lực, đần độn, liệt, thất ngôn. Các di chứng thần kinh như vậy thường chiếm hơn 50% người bị mắc bệnh, thường gây tàn phế, mất khả năng lao động, để lại gánh nặng cho gia đình và xã hội. Hướng xử trí Nguyên tắc buộc phải tuân thủ là tất cả các bệnh nhân viêm não Nhật Bản đều phải được điều trị tại bệnh viện. Trong khi chờ đợi, trẻ sốt cao phải được uống thuốc hạ sốt như Paracetamon, liều 15mg/kg cân nặng/lần, tối đa uống 4 lần/ngày. Có thể phối hợp chườm khăn mát ở trán và bẹn, chú ý tuyệt đối không chườm đá lạnh. Trẻ phải được đưa đến bệnh viện hay cơ sở y tế gần nhất ngay lập tức nếu sốt cao quá 12 giờ liên tục hoặc có các dấu hiệu như nôn vọt, cứng gáy, rối loạn ý thức... Phòng bệnh Việc đưa trẻ tới bệnh viện và được xử lý kịp thời sẽ giảm thiểu tối đa các di chứng của bệnh viêm não Nhật Bản, nhưng nếu không thì khả năng tàn phế suốt đời là vô cùng lớn. Vì vậy, việc phòng bệnh sẽ là giải pháp tối ưu hơn cả. Trước hết, cần vệ sinh môi trường sạch sẽ, thoáng đãng. Loại bỏ các ổ nước tù đọng quanh nơi sinh hoạt, diệt bọ gậy để muỗi không có điều kiện sinh sôi. Nếu gia đình có khu vực chuồng trại chăn nuôi thì cần được vệ sinh thường xuyên. Khi ngủ phải nằm màn, ngoài ra cần phun thuốc diệt muỗi. Nhưng biện pháp phòng bệnh hữu hiệu nhất là tiêm văcxin phòng viêm não Nhật Bản nhằm tạo miễn dịch chủ động. Liệu trình tiêm phòng cần đủ 3 liều: 2 mũi đầu cách nhau 1-2 tuần, mũi thứ 3 nhắc lại sau 1 năm. Văcxin viêm não Nhật Bản bắt đầu tiêm khi trẻ được 1 tuổi. Các phản ứng nhẹ sau tiêm có thể là sưng đỏ tại chỗ, đau, sốt, nhức đầu. Các dấu hiệu này sẽ tự hết nhiều nhất sau vài ngày. Hầu như các phản ứng phụ nặng nề là rất hiếm gặp. Trẻ cần được tiêm chủng đúng lịch trình vì nếu không hiệu lực của văcxin, khả năng tạo miễn dịch của trẻ sẽ giảm, đôi khi còn mất tác dụng. Mọi lý do tạm hoãn tiêm chủng đều phải có ý kiến của bác sĩ, thông thường chống chỉ định tiêm văcxin khi trẻ sốt cao, loạn dưỡng nặng, đang bị tim mạch, thận, gan giai đoạn cấp tính, đang tiến triển, trẻ quá mẫn cảm hoặc dị ứng với văcxin. KIỀU NGA (Với sự cố vấn và hỗ trợ thông tin của Bác sĩ Nhi khoa Nguyễn Trung Hà, Bệnh viện Việt Pháp, Hà Nội
Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2013
11:49
Unknown
Gần đây, tại nước ta bỗng xuất hiện và lan rất nhanh một bệnh sốt phát ban kiểu mới còn được gọi là Rubella hay bệnh sởi Đức. Vậy Rubella có phải là bệnh sởi mà chúng ta vẫn thường gặp ở trẻ nhỏ?
Bệnh sởi Thường gặp ở trẻ từ 1 tuổi trở lên, thời gian nung bệnh từ 7-10 ngày. Bệnh khởi phát trong 2-3 ngày với các triệu chứng: sốt đột ngột từ 38 độ C trở lên, mắt ướt, kèm nhèm, ho, chảy nước mũi, tiêu chảy... Khi bệnh toàn phát thì sốt cao 38,5-39 độ C, li bì, mệt mỏi, các ban sởi dày, mịn, xuất hiện đầu tiên ở sau tai, lan ra mặt, cổ xuống thân mình, tứ chi trong 1-2 ngày. Bệnh sẽ lui khi hết sốt, ban bay dần theo trình tự mọc và để lại vết thâm trên da. Bệnh sởi hay để lại nhiều biến chứng khi bệnh toàn phát hoặc lui bệnh như: viêm phổi, viêm phế quản... có thể gây tử vong, nhất là ở trẻ dưới 1 tuổi; viêm tai giữa, viêm xoang, viêm răng lợi (nếu nặng bị cam tẩu mã); tiêu chảy có thể gây mất nước dẫn đến tử vong; suy dinh dưỡng; viêm loét giác mạc; lao và các bệnh nhiễm trùng khác. Bệnh sởi đã có vắc-xin tiêm phòng, đặc biệt trẻ em dưới 1 tuổi đã được tiêm phòng đầy đủ. Bệnh Rubella Bệnh Rubella lây nhiễm qua đường hô hấp, có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nung bệnh từ 12-14 ngày, khởi phát với các triệu chứng sốt nhẹ, các dấu hiệu mắt ướt, ho, chảy nước mũi, ỉa lỏng... gần như không thấy. Khi bệnh toàn phát, các biểu hiện mới thấy rõ: mệt mỏi, sốt nhẹ, chảy nước dãi và rõ ràng nhất là nổi mẩn đỏ trên da giống như bệnh sởi. Trẻ ít khi nằm li bì, xung huyết mắt, da mặt, hạch to ở dọc hai bên cổ, không đau. Các nốt ban trên da dạng chấm đỏ rải rác, mọc không có quy luật và có thể thấy đau khớp. Khi bệnh lui thường hết sốt, ban bay nhanh không theo quy luật, không để lại các dấu vết trên da, hạch trở về bình thường muộn hơn, thường sau 1 tuần. Các biến chứng của Rubella chủ yếu là đau và sưng khớp, nhất là ở phụ nữ cao tuổi (chiếm 70%), viêm não, xuất huyết giảm tiểu cầu, viêm thần kinh, gây dị dạng thai nhi ở phụ nữ có thai. Phụ nữ mắc bệnh Rubella khi đang mang thai có khả năng sinh con bị các dị tật bẩm sinh như: các bệnh tim bẩm sinh, bệnh đầu nhỏ, chậm phát triển tâm thần, đục thủy tinh thể, điếc, các tổn thương xương dài... Rubella là một bệnh nhẹ, diễn biến lành tính, tỷ lệ tử vong và biến chứng rất thấp. Tuy nhiên, nó lại đặc biệt nguy hiểm với phụ nữ có thai, nhất là trong 3 tháng đầu. Nó có thể gây sẩy thai, dị tật thai nhi và bệnh Rubella bẩm sinh ở trẻ mới sinh. Những trẻ mắc Rubella bẩm sinh dễ gặp các biến chứng nặng nề như bại não, tổn thương phổi, mù mắt... Một số nước có quy định bắt buộc phá thai nếu người mẹ mắc Rubella trong 3 tháng đầu của thai kỳ. Rubella hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Cách chữa chủ yếu vẫn là cho bệnh nhân nghỉ ngơi tĩnh dưỡng và dùng các thuốc nâng cao thể trạng, đặc biệt là vitamin để tăng khả năng chống đỡ của cơ thể. Phòng ngừa Cách phòng ngừa đặc hiệu đối với bệnh Rubella là tiêm vắc-xin loại kết hợp phòng cả 3 bệnh rubella, sởi và quai bị. Sử dụng cho trẻ em trên 12 tháng tuổi và người lớn. Cần khuyến cáo những phụ nữ trong độ tuổi mang thai, hoặc dự định mang thai trong thời gian này nên đi chích ngừa bệnh. Sản phẩm tạo miễn dịch trong thời gian rất dài và tác dụng bảo vệ vẫn còn nếu người phụ nữ chích ngừa mang thai nhiều năm sau đó. Ngoài ra, có thể phòng bệnh bằng các biện pháp không đặc hiệu khác như mặc đủ ấm, ăn uống đảm bảo dinh dưỡng, cách ly và thực hiện các biện pháp phòng lây lan vì bệnh truyền nhiễm rất nhanh qua đường hô hấp. TS BÙI MẠNH HÀ
11:46
Unknown
Tỷ lệ trẻ mắc các bệnh do virus tăng trong mấy năm gần đây, hay xuất hiện khi thời tiết đổi mùa. Trong điều kiện bình thường cũng có những virus ký sinh trên đường hô hấp, tiêu hóa, chờ thời cơ để gây bệnh.
Các loại virus hay gây sốt gồm Myxo virus, Coxackie, Entero, sởi, thủy đậu, viêm não Nhật Bản... Virus có thể lây từ người này sang người khác, đặc biệt là qua đường hô hấp, tiêu hóa... và gây thành dịch. Một trong các triệu chứng nổi bật của tình trạng nhiễm virus là sốt cao, thường là 38-39 độ C, thậm chí 40-41 độ C. Trong cơn sốt, trẻ thường mệt mỏi và ít đáp ứng với các loại thuốc hạ sốt thông thường như paracetamol. Khi hạ sốt, trẻ lại tỉnh táo, chơi bình thường. Các biểu hiện khác gồm đau mình mẩy (trẻ lớn đau cơ bắp, thường kêu đau khắp mình, trẻ nhỏ quấy khóc) đau đầu (có thể vẫn tỉnh táo, không kích thích, vật vã), viêm long đường hô hấp (ho, chảy nước mũi, hắt hơi, họng có thể đỏ). Rối loạn tiêu hóa: thường xuất hiện sớm nếu nguyên nhân gây sốt là virus đường tiêu hóa, cũng có thể xuất hiện muộn hơn vài ngày sau khi sốt với đặc điểm là phân lỏng, có chất nhầy, không có máu. Trẻ có thể viêm hạch, đặc biệt là các hạch ở vùng đầu, mặt, cổ thường sưng to, đau, có thể nhìn hoặc sờ thấy. Phát ban thường xuất hiện sau 2-3 ngày kể từ khi sốt, khi xuất hiện ban thì sẽ giảm sốt. Ngoài ra, trẻ có thể bị viêm kết mạc mắt, nôn. Thông thường, các triệu chứng nêu trên xuất hiện rất rầm rộ; sau 3-5 ngày sẽ giảm dần và mất đi, trẻ trở lại khỏe mạnh. Sốt virus chưa có thuốc đặc hiệu, chủ yếu là điều trị triệu chứng. Để hạ sốt, thường dùng paracetamol liều 10 mg/kg, 6 giờ một lần. Chườm trán cho trẻ bằng khăn mát, lau khô mồ hôi, lau người bằng nước ấm, để trẻ nằm nơi thoáng mát, mặc quần áo mỏng. Nếu trẻ sốt cao trên 38,5 độ C thì nên dùng thuốc hạ sốt kèm theo thuốc chống co giật theo chỉ định của bác sĩ, đặc biệt là những trẻ có tiền sử co giật khi sốt cao. Sốt cao có thể gây ra tình trạng mất nước, rối loạn cân bằng điện giải trong cơ thể. Nên dùng các thuốc có tác dụng bù nước và chất điện giải mất qua da do sốt như oresol, cháo muối nấu loãng. Vệ sinh sạch sẽ cho trẻ, nhỏ mắt, mũi bằng natriclorit 0,9%, tránh bội nhiễm vi khuẩn đường hô hấp. Cho trẻ ăn lỏng, dễ tiêu, giàu chất dinh dưỡng. Vệ sinh cơ thể cho trẻ sạch sẽ, tắm bằng nước ấm trong phòng kín. Phải đưa trẻ đến khám ngay tại trung tâm y tế khi có các dấu hiệu sau: - Sốt cao trên 38,5 độ C, đặc biệt là trên 39 độ C mà dùng thuốc hạ sốt không hiệu quả. -Lơ mơ, li bì, ngủ nhiều, xuất hiện co giật, đau đầu liên tục, tăng dần, buồn nôn, nôn khan nhiều lần, sốt kéo dài trên 5 ngày. ThS Đỗ Vinh Hoa, Sức Khỏe & Đời Sống
Thứ Năm, 3 tháng 10, 2013
01:42
Unknown
Tháng 3 là mùa bùng phát của dịch thủy đậu (trái rạ). Vài tuần qua, tại TPHCM đã xuất hiện rải rác các ca thủy đậu
Thống kê tình hình dịch tễ tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 - THCM 5 năm qua (2001-2005) cho thấy thủy đậu xảy ra quanh năm, nhưng thời điểm phát bệnh cao nhất là từ tháng 2 đến tháng 6, trong đó tháng 3 là mùa bùng phát của dịch thủy đậu. Chỉ riêng tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 trung bình có khoảng từ 80 đến 100 ca thủy đậu/tháng từ tháng 6 đến tháng 10, nhưng từ tháng 12 và những tháng đầu năm số ca bệnh tăng dần, đỉnh điểm là hơn 500 ca trong tháng 3 năm 2004 và 2005.
Có thể gây biến chứng ở thần kinh, phổi
Thủy đậu lây lan dễ dàng qua không khí, hít phải nước bọt khi bệnh nhân hắt hơi, ho hoặc tiếp xúc với mụn nước của người bị bệnh. Bệnh cũng có thể truyền từ mẹ sang con nếu người mẹ bị thủy đậu trong lúc mang thai. Cần lưu ý là khi nhiễm virus thủy đậu bệnh nhân thường không có triệu chứng gì trong 2 tuần đầu, nhưng 2-4 ngày trước khi phát bóng nước (nốt rạ), bệnh đã có khả năng lây nhiễm. Ngay cả khi bệnh nhân thủy đậu đã phát bóng nước được 6 ngày, virus gây bệnh vẫn có thể lây lan cho người lành.
Thủy đậu gây ra do virus varicella zoster. Phần lớn bệnh nhân là trẻ từ 5-11 tuổi, nhưng bệnh cũng có thể xảy ra ở người lớn. Đặc trưng của bệnh thủy đậu là ngứa, phát ban ngoài da, ban sẩn có mụn nước thường kèm theo sốt. Người bệnh thường có dấu hiệu ban đầu là sốt, mệt mỏi, biếng ăn, đau cơ. Sau đó các nốt rạ xuất hiện ở da đầu, mặt, lan xuống thân và tay chân với số lượng từ 300 đến cả ngàn nốt gây ngứa ngáy, đau nhức rất khó chịu. Bệnh thường diễn biến nhẹ, tuy nhiên nếu không được chăm sóc đúng cách, bệnh có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm từ bội nhiễm vi khuẩn đến viêm não. Nếu bệnh nhân bị bội nhiễm da có thể để lại sẹo vĩnh viễn. Thủy đậu có thể gây biến chứng đến hệ thần kinh trung ương và gây viêm phổi dẫn đến tử vong. Bên cạnh đó, một biến chứng về sau của bệnh thủy đậu là Zona (còn gọi là giời leo), thường gây đau nhức nhiều hơn so với bệnh thủy đậu và có thể kéo dài trong nhiều năm.
Phòng bệnh: cách ly bệnh nhân và chủng ngừa
Điều quan trọng khi chăm sóc bệnh nhân thủy đậu là phải giữ vệ sinh, tránh ủ kín, theo dõi thường xuyên để phát hiện sớm những dấu hiệu nghi ngờ biến chứng như sốt cao, mụn nước ửng đỏ xung quanh hay có mủ... Trong gia đình, trường học, công sở có người mắc bệnh thủy đậu, để phòng tránh lây lan cho cộng đồng, việc cách ly bệnh nhân (7-10 ngày) là hết sức quan trọng. Vì thế, nếu trẻ ở độ tuổi đi học bị mắc bệnh thì buộc phải nghỉ học và người lớn thì phải nghỉ làm từ 1-2 tuần. Tuy nhiên, điều này vẫn không bảo đảm ngừa được bệnh cho người khác, vì virus có thể lây lan ngay cả trước khi phát mụn nước và sau khi mụn nước đã lành. Do đặc tính rất dễ lây lan của bệnh với tỉ lệ lây nhiễm lên đến 90%, muốn phòng bệnh hiệu quả chúng ta cần chủ động phòng bệnh cho mình và người thân càng sớm càng tốt.
Để không mắc bệnh, biện pháp tích cực nhất và hiệu quả nhất vẫn là chủng ngừa vắc-xin. Những nghiên cứu trên thế giới cho thấy 90% đối tượng chưa chủng ngừa thủy đậu có khả năng mắc bệnh. Điều này có nghĩa là một người chưa được chủng ngừa thủy đậu nếu tiếp xúc với người mang mầm bệnh hoặc bệnh nhân thủy đậu thì hầu như chắc chắn sẽ bị lây bệnh.
Việc tiêm ngừa vắc-xin thủy đậu không chỉ giúp bản thân bạn tránh được bệnh mà còn ngăn chặn việc lây lan cho những người xung quanh, về lâu dài sẽ giảm được sự bùng phát dịch thường niên. Vắc-xin ngừa thủy đậu tạo được miễn nhiễm lâu dài gần như suốt đời, có tính an toàn cao, ít tác dụng phụ (chỉ khoảng 5% sốt nhẹ sau khi chích). Trẻ từ 9 tháng tuổi đến 12 tuổi chỉ cần tiêm một liều dưới da. Trẻ trên 13 tuổi và người lớn tiêm 2 liều, mỗi liều cách nhau từ 4-8 tuần. Tại TPHCM, phụ huynh có thể liên hệ tiêm ngừa ở các bệnh viện, Viện Pasteur và trung tâm y tế dự phòng quận, huyện.
Bác sĩ Trương Hữu Khanh (Trưởng Khoa Nhiễm BV Nhi Đồng 1)
Thứ Tư, 2 tháng 10, 2013
12:56
Unknown
“1/3 tổng số bệnh nhi đến khám trong những ngày này bị các căn bệnh do virus. Đây đang là mùa của loại bệnh này” - bác sĩ Nguyễn Văn Lộc, phó giám đốc Bệnh viện Nhi T.Ư, nói.Mùa virusTheo ông Lộc, trong một tuần qua số lượng bệnh nhi đến khám và nhập viện do thủy đậu và các bệnh liên quan đến đường hô hấp tăng vọt. Riêng ngày 22-2, tại phòng khám 106, chuyên khoa lây Bệnh viện Nhi T.Ư đã có cả chục trẻ được kết luận là mắc bệnh thủy đậu.
Thủy đậu là bệnh có thể xuất hiện ở bất kỳ nhóm tuổi nào nếu chưa được miễn dịch, nhưng hay gặp nhất ở trẻ em từ 2-6 tuổi và thời điểm hay gặp là mùa xuân, độ ẩm không khí cao, thời tiết nóng lạnh thất thường.
Hiện trung bình mỗi ngày có khoảng 900-1.200 bệnh nhi đến Bệnh viện Nhi T.Ư khám bệnh, nhưng trong thời điểm này có tới 1/3 trong số các cháu mắc các chứng bệnh liên quan đến đường hô hấp và do virus (như adeno virus, cúm hay sởi), cao hơn hẳn so với cùng kỳ tháng trước.
Thống kê của Sở Y tế Hà Nội tại một số trường tiểu học và THCS (Nghĩa Tân, Dịch Vọng, Mai Dịch, Quảng An...) cũng cho thấy từ tháng mười hai đến nay đã có gần 500 học sinh bị sốt do virus. Kết quả xét nghiệm bệnh phẩm tại Viện Vệ sinh dịch tễ T.Ư cho thấy các cháu nhỏ này mắc rubella, adeno virus, thủy đậu, quai bị - những bệnh thường xuất hiện vào mùa xuân.
Tại Bệnh viện Xanh Pôn, số bệnh nhi mắc các bệnh liên quan đến đường hô hấp như ho, viêm phế quản, viêm phổi cũng tăng mạnh. Bác sĩ Đinh Thị Loan, phòng khám nhi, khẳng định mùa xuân- hè là thời gian trẻ dễ mắc bệnh sốt virus, nhưng trong mấy năm trở lại đây và nhất là năm nay, số bệnh nhi tăng đột biến.
Phòng bệnh thế nào?
Theo bác sĩ Lộc, thủy đậu là bệnh lành tính, nếu không bị nhiễm trùng thì có thể khỏi nhanh mà không để lại di chứng. Tuy nhiên, những trường hợp phụ huynh không giữ gìn, để trẻ nhỏ gãi lung tung do ngứa, gây chảy nước có thể dẫn đến nhiễm trùng huyết, thậm chí có thể tử vong.
Do đó, ngay khi xuất hiện những nốt mẩn đỏ đầu tiên, trẻ cần được cách ly, dùng nước oxy già rửa vết loét, không mặc quần áo dày cho trẻ để tránh bị cọ xát, chảy nước ở mụn đỏ.
Một ngộ nhận khác của nhiều phụ huynh là thấy con trẻ bị thủy đậu thường kiêng triệt để gió và nước, không tắm cho trẻ. Bác sĩ Nguyễn Văn Lộc cho hay trẻ bị thủy đậu cần được vệ sinh sạch sẽ, tốt nhất là tắm cho trẻ bằng nước lá đắng (như lá ổi), nhưng tránh làm trợt các vết loét.
Phụ huynh cũng cần cho các cháu ăn uống tốt và theo dõi trong các trường hợp trẻ tự nhiên sốt cao, đột nhiên tím tái, khó thở... phải đưa các cháu đến cơ sở y tế. Hiện tại VN đã có văcxin phòng thủy đậu cho trẻ. Còn với adeno virus, ông Lộc cho hay đây là loại virus có nhiều type và hiện vẫn chưa biết type nào thường gặp ở VN.
| TP.HCM: rất ít trường hợp nhiễm adeno virus
BS Trương Hữu Khanh - trưởng khoa nhiễm BV Nhi Đồng 1 - cho biết tại TP.HCM rất ít trường hợp nhiễm adeno virus.
Virus này làm cho người nhiễm bệnh có các dấu hiệu của viêm đường hô hấp trên: viêm họng, sốt, viêm thanh quản, đau mắt đỏ, sưng hạch, phát ban. Đây chỉ là bệnh lý thông thường khi đổi mùa, không cần điều trị đặc hiệu.
Lưu ý những người nhiễm virus ở xứ lạnh dễ bị biến chứng, còn ở những vùng nhiệt đới không nguy hiểm. Nói chung, bệnh đều khỏi trừ những người có cơ địa quá nhiều bệnh mãn tính và suy nhược cơ thể trầm trọng. Quan trọng là theo dõi bệnh sớm, tránh để bị biến chứng.
* Bộ Y tế đã thông báo quyết định của Thủ tướng về việc thành lập Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống đại dịch cúm ở người do Bộ trưởng Bộ Y tế Trần Thị Trung Chiến làm trưởng ban.
Ban chỉ đạo có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch phối hợp hoạt động của các bộ, ngành trong phòng chống đại dịch cúm ở người; tổ chức thực hiện và đôn đốc, kiểm tra các bộ, ngành, địa phương thực hiện kế hoạch phòng chống đại dịch cúm ở người.
|
12:54
Unknown
Năm nay, dù đang ở thời điểm mùa khô nhưng bệnh sốt xuất huyết (SXH) vẫn diễn ra đều đặn và có chiều hướng gia tăng. Hiện tại, khoa Sốt xuất huyết của Bệnh viện nhi đồng I (TP.HCM) có 49 bệnh nhi mắc bệnh SXH đang điều trị, trong đó có 22 trẻ bệnh ở mức độ nặng (độ III). Từ đầu năm đến nay, tại TP.HCM đã có hơn 1.200 người mắc bệnh SXH.
Trước hiện tượng này, bác sĩ Phan Văn Nghiệm - Trưởng phòng nghiệp vụ y (Sở Y tế TP.HCM) cho biết:
- Đặc trưng của bệnh SXH là xảy ra nhiều vào mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 10 hằng năm), khi mật độ lăng quăng, muỗi tăng cao. Tuy nhiên, hiện "quy luật" đó đã bị phá vỡ. Do có sự thay đổi về cơ cấu bệnh tật, do môi trường... bệnh SXH có thể diễn ra rải rác quanh năm, kể cả mùa khô. Bằng chứng là từ đầu năm đến nay, các bệnh viện tại TP.HCM tiếp nhận nhiều trường hợp mắc bệnh SXH tại TP.HCM và các tỉnh lân cận chuyển đến. Ngoài ra, hiện nay còn có sự thay đổi nữa là bệnh SXH không chỉ "tập trung" ở trẻ em mà nguời lớn mắc phải cũng rất nhiều. TP.HCM là một trong những địa phương có số người mắc bệnh SXH cao do mật độ lăng quăng, muỗi cao, trong đó có nguyên nhân do các công trình xây dựng dở dang, gây ứ đọng nước, tạo điều kiện cho lăng quăng phát triển...
* Những biểu hiện để nhận biết và phòng bệnh SXH?
- Bác sĩ Phan Văn Nghiệm: Dấu hiệu để nhận biết trẻ bị SXH đó là: trẻ sốt cao, sốt liên tục 2 - 3 ngày, uống thuốc hạ sốt vài giờ sau vẫn bị sốt trở lại, trẻ vật vã, bứt rứt, đau đầu, đau bụng, xuất huyết ngoài da, chảy máu cam, có thể nôn ói ra máu... Đặc biệt, cần lưu ý, trong những ngày thứ 3 đến ngày thứ 6 sau khi mắc bệnh, trẻ thường hết sốt, người lớn nhầm tưởng bệnh đã lui, nhưng lúc này dễ xảy ra nguy kịch cho trẻ (sốc, trụy mạch dẫn đến tử vong). Tay, chân lạnh là dấu hiệu để nhận biết trước khi trẻ bị sốc. Hiện nay, chưa có thuốc đặc trị bệnh SXH mà chỉ điều trị triệu chứng, biến chứng.
Đối với bệnh SXH (bệnh do muỗi đốt gây nên), việc phòng bệnh là rất quan trọng. Nếu người dân ý thức tốt việc phòng bệnh, không để lăng quăng, muỗi có "đất" sống thì sẽ tránh được bệnh. Cần dọn dẹp môi trường chung quanh, lưu ý các chậu hoa, bình, lu, bể... là điều kiện phát sinh lăng quăng, muỗi. Những nơi có nhiều muỗi cần cho trẻ ngủ mùng, kể cả ban ngày. Khi trẻ có dấu hiệu mắc bệnh, nhất là sốt cao cần đưa đến cơ sở y tế gần nhất để được xử lý, không để trẻ sốt cao lâu, co giật gây tác hại cho trẻ...
Đăng ký:
Bài đăng
(
Atom
)
.jpg)
.jpg)








.jpg)

.jpg)

.jpg)

.jpg)
.jpg)
.jpg)
.png)
.png)
.png)