Thứ Hai, 30 tháng 9, 2013

Theo nhận xét của giới chuyên môn, từ tháng 1 đến tháng 5 hằng năm là mùa của thủy đậu, căn bệnh gây nhiều khó chịu và những biến chứng nguy hiểm ít ai ngờ tới. Mặc dù đây là bệnh “khá quen” đối với nhiều người, nhưng những hiểu biết sai về bệnh vẫn còn phổ biến


1. Thủy đậu là bệnh nhẹ. SAI
Bệnh thường diễn tiến nhẹ, nhưng đây không phải là bệnh lành tính mà có thể gây những biến chứng nguy hiểm từ nhiễm trùng nốt rạ, nhiễm trùng huyết đến những tác hại về thần kinh như viêm não, viêm màng não, viêm phổi dẫn đến tử vong. Biến chứng phổ biến nhất ở trẻ em là nhiễm trùng da và mô mềm để lại sẹo vĩnh viễn trên da.
2. Bệnh chỉ xảy ra cho trẻ em. SAI
Bệnh thường xảy ra ở trẻ em, từ 5 đến 11 tuổi, nhưng thanh thiếu niên và người lớn cũng có thể nhiễm bệnh nếu họ chưa từng mắc bệnh này hoặc chưa tiêm ngừa.
3. Mắc bệnh này thì cần kiêng gió, kiêng nước. SAI
Quan niệm này rất phổ biến trong dân gian, nhưng hoàn toàn sai. Do đặc trưng của bệnh là phát ban kiểu bóng nước ở da và niêm mạc, nên càng kiêng gió, kiêng nước thì càng dễ dẫn đến nhiễm trùng da. Trong một nghiên cứu ở Đài Loan, 44,1% bệnh nhân bị biến chứng nhiễm trùng da và mô mềm.
4. Phụ nữ mang thai mà bị bệnh thủy đậu thì chẳng hề gì. SAI
Thai phụ mắc bệnh thủy đậu có nhiều nguy cơ dẫn đến hội chứng thủy đậu bẩm sinh với tỉ lệ chung là 1% ở phụ nữ nhiễm bệnh trong 20 tuần đầu tiên của thai kỳ, trong đó 0,4% nguy cơ từ 0-12 tuần và 2% từ tuần 13-20. Hội chứng thủy đậu bẩm sinh bao gồm trẻ sinh ra bị nhẹ cân, sẹo da, loạn sản chi, đầu nhỏ, viêm hắc - võng mạc mắt, đục thủy tinh thể...
5. Như thế chỉ cần tiêm ngừa thủy đậu cho phụ nữ độ tuổi mang thai. SAI
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo tiêm ngừa thủy đậu cho mọi người lớn và thanh thiếu niên chưa từng mắc bệnh. Một nghiên cứu tại Singapore vào năm 1994-1995 cho thấy chỉ cần tốn 3,3 triệu USD tiêm ngừa thủy đậu sẽ tiết kiệm được 11,8 triệu USD chi phí hậu quả do bệnh này gây ra.

Những ngày qua, hơn 70 học sinh ở một số trường tiểu học, trung học cơ sở tại các quận, huyện ở TP.HCM đã bị các triệu chứng của bệnh rubella tấn công. Bệnh rubella có gây nguy hiểm cho trẻ hay bà mẹ mang thai? Bác sĩ Trương Hữu Khanh - Trưởng khoa Nhiễm - thần kinh (Bệnh viện Nhi đồng 1, TP.HCM) cho biết:


- Không chỉ ở trẻ em, bệnh rubella còn xảy ra ở nhiều lứa tuổi, người lớn cũng có thể mắc bệnh. Bệnh có thể xảy ra ở những người chưa mắc rubella lần nào, hoặc chưa từng được chủng ngừa trước đó. Rubella xảy ra rải rác quanh năm, nhưng có năm cũng xảy ra theo mùa (thường bệnh xảy ra nhiều vào khoảng từ tháng 2 đến tháng 6). Những nơi đông người như trường học, công ty, xí nghiệp, khu nhà trọ là môi trường dễ làm lây nhiễm bệnh rất nhanh, bởi rubella lây qua đường hô hấp.
* Triệu chứng bệnh như thế nào?
- Trẻ mắc bệnh rubella thường có những biểu hiện như: mệt mỏi, đau nhức cơ thể, sốt, ho... sau cùng là nổi ban (ban có màu hồng, hình tròn hoặc hình răng cưa), nổi hạch sau tai cùng lúc phát ban. Thiếu niên và người lớn mắc bệnh thì thường nặng hơn trẻ nhỏ, có kèm theo sốt cao. Thời gian ủ bệnh của rubella từ 10 - 14 ngày, sau khi nổi ban khoảng vài ngày thì hết.
* Bệnh có để lại di chứng gì không?
- Nếu trẻ mắc bệnh nên cho trẻ nghỉ ngơi, uống nhiều nước, hạn chế vận động để tránh biến chứng (viêm phổi), không cần nhập viện. Cần cách ly không cho trẻ mắc bệnh đến lớp, không cho công nhân có bệnh đến sở làm, xử lý môi trường nơi xảy ra bệnh để tránh lây lan bệnh.
Những nốt ban do bệnh rubella sau khi lặn đi không để lại sẹo. Bệnh không nguy hiểm đối với trẻ nhỏ, nhưng lại rất nguy hiểm đối với phụ nữ mang thai 3 tháng đầu thai kỳ. Nếu mắc bệnh rubella ở thời điểm này có thể làm sẩy thai, hoặc trẻ sinh ra có thể mắc rubella bẩm sinh, bị dị dạng (đầu nhỏ, bại não, tim bẩm sinh, đục thủy tinh thể...). Phòng bệnh bằng cách tiêm ngừa cho trẻ ở thời điểm từ 12 - 18 tháng tuổi, khi trẻ 5 - 6 tuổi tiêm nhắc lại một mũi nữa. Nếu trẻ lớn trên 5 tuổi thì chỉ tiêm một mũi. Ngoài ra, phụ nữ ở tuổi sinh đẻ cần tiêm ngừa trước khi mang thai.

Thứ Bảy, 28 tháng 9, 2013

PHÒNG CHỐNG VIÊM GAN VI RÚT Ở TRẺ EMBS. QUANG MINH
 Viêm gan vi rút (VGVR) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính thường gặp, là một trong nhiều loại viêm gan. Nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới cho biết, đến nay đã phát hiện được 6 loại vi rút gây viêm gan khác nhau, được ký hiệu bằng các chữ A, B, C, D, E, G. Gần đây nhất đã phát hiện được vi rút gây viêm gan mới được gọi là TT, VRVG A và B là 2 loại VRVG đã được phát hiện từ Đại chiến thế giới lần thứ 2 và đã có vắc xin để phòng bệnh. VRVG A và E lây truyền qua đường tiêu hóa; qua nước bọt, dùng chung dụng cụ ăn uống. Các loại vi rút gây viêm gan khác lây truyền qua đường máu như: tiêm chích, truyền máu, châm cứu... Mẹ mang thai có thể lây truyền sang cho con trong thời kỳ chu sinh cũng là một đường lây truyền quan trọng.


VRVG có thể gây nhiều tai biến nghiêm trọng như:  teo gan vàng cấp, hôn mê... dẫn đến tử vong nhanh chóng. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học: 25% bệnh nhân VGVR B và 75% bệnh nhân VGVR C có thể chuyển sang viêm gan mãn. Tỷ lệ tử vong do VGVR cũng khác nhau: VGVR B và VGVR C chỉ gây tử vong 1-4% ngay trong giai đoạn cấp. Nguy hiểm hơn, VGVR có thể gây xơ gan, ung thư gan. 
Các dấu hiệu VGVR: khi các cháu có các dấu hiệu như mệt mỏi, chán ăn, sốt, vàng da, vàng mắt, đái nước tiểu có màu vàng, vàng mắt, đau tức hạ sườn bên phải... đặc biệt là các dấu hiệu trên xuất hiện khi bệnh nhi vừa được tiêm chích, châm cứu, truyền máu, nhổ răng...hay trong gia đình, nhà trẻ mẫu giáo có trẻ mắc bệnh VGVR mà có các triệu chứng trên, cần cho trẻ đi khám bệnh và điều trị sớm. Thể bệnh nặng có thể gây sốt cao, mê sảng, co giật, hôn mê. 
Vài nét về điều trị VGVR: VGVR cần được điều trị sớm. điều trị tích cực: cho đến nay, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu đối với vi rút gây viêm gan. Chủ yếu là điều trị triệu chứng như thuốc nhuận gan mật, nâng cao thể trạng cho người bệnh... Một số thuốc diệt vi rút và Alpha-Intecpheron đã được áp dụng vào điều trị VRVG A và VRVG B nhưng giá thành còn rất đắt và hiệu quả còn hạn chế.
Chữa bệnh viêm gan vi rút bằng thuốc nam như thế nào? Nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy nhiều loại dược thảo có tác dụng diệt được vi rút như chè tươi, dấp cá, hành... Nhiều bài thuốc Đông y có tác dụng chữa bệnh VGVR đã được áp dụng trong nhân dân và các bệnh viện trong cả nước.
Bài 1: Hạt Dành dành (Chi tử), nhân trần mỗi thứ 6-12g, sắc uống hàng ngày. 
Bài 2: Diệp hạ châu (Kiềm vườn, cây chó đẻ răng cưa), rau má mỗi thứ một nắm nhỏ, sắc uống hàng ngày. Cây chó đẻ răng cưa là một cây thuốc qúi cũng được áp dụng trong nhân dân, có hiệu quả tốt trong điều trị. Bố mẹ trẻ có thể tự thu hái để điều trị cho con trẻ. Cây Diệp hạ châu mọc hoang ở nhiều nơi trong cả nước. Có thể dùng cây tươi hoặc cây khô, dùng thân, lá, bỏ rễ. Liều dùng 30-50g tươi ngày. Cây thuốc này có thể áp dụng điều trị cho VGVR cấp và viêm gan mãn, thậm chí còn có thể điều trị cho cả bệnh nhi bị xơ gan.
Bài 3: Nhân trần cao thang hợp phương: Nhân trần, chi tử (hạt Dành dành), Phục linh, Trư linh, Hoàng bá, Bạch truật, Đảng sâm, Hậu phác, mỗi thứ 12g; Trạch tả, Sa tiền, Cam thảo mỗi thứ 6g... Sắc uống ngày 1 thang, có tác dụng cải thiện chức năng gan, nâng đỡ thể trạng, kích thích tiêu hóa, hạ sốt, giảm vàng da, vàng mắt. 
Dự phòng bệnh viêm gan vi rút? bố mẹ trẻ cần biết:
 
- Tiêm vắc xin phòng VGVR cho trẻ và cho mẹ khi mang thai là việc cần thiết. Hiện nay mới chỉ có vắc xin VGVR A và B. Những trẻ được sinh ra do mẹ có phản ứng huyết thanh với VGVR B được khuyên nên tiêm vắc xin sớm.
- Trong gia đình có người VGVR A hoặc E cần cho ăn uống bằng bát đũa, dụng cụ ăn uống riêng.
- Có thể yêu cầu thầy thuốc tiêm Hunman gamma globulin 16% với liều 0,02 ml/kg cân nặng để dự phòng nhiễm vi rút viêm gan nếu có tiếp xúc với bệnh nhi hoặc khi đang có dịch VGVR A tại địa phương. Trẻ có nguy cơ nhiễm bệnh thường xuyên nên tiêm nhắc lại mỗi 4-6 tháng một lần.
- Cho trẻ ăn đủ chất, chống suy dinh dưỡng, ăn tăng rau xanh hoa quả tươi, hạn chế các đồ ăn chiên, rán gây khó tiêu... để nâng cao thể trạng và sức đề kháng cho trẻ.
Viện Thông tin thư viện y học Trung Ương.

Mùa mưa đã đến, những cơn mưa làm cho khí hậu bớt nóng khiến mọi người cảm thấy dễ chịu hơn. Tuy nhiên mùa mưa cũng là điều kiện thuận lợi cho muỗi sinh sôi và phát triển, do đó bệnh sốt xuất huyết cũng theo đó mà bùng phát nhiều hơn.


Bệnh sốt xuất huyết là gì? Đó là một bệnh nhiễm trùng do virus Dengue gây ra. Nó gây ra sốt, xuất huyết, truỵ tim mạch và có thể tử vong nếu không xử trí kịp thời và đúng đắn.
Bệnh sốt xuất huyết được lây truyền từ người bệnh sang người lành bởi con muỗi vằn Aedes aegypty. Muỗi thường sống xung quanh nhà. Muỗi cái thường hút máu người bệnh vào ban ngày và chích vào người lành làm lây lan bệnh.
Bệnh thường xảy ra ở trẻ em, nhất là từ 2 – 9 tuổi. Tuy nhiên ngày nay cũng thường thấy bệnh xảy ra ở cả người lớn nữa!
Các dấu hiệu nhận biết bệnh sốt xuất huyết:
- Sốt cao đột ngột kèm theo đau nhức mình mẩy, nhức đầu, đau khớp, chán ăn, ói mửa, đau họng.
- Đau bụng vùng thượng vị (vùng bụng ở ngay dưới mũi xương ức), hoặc đau vùng dưới bờ sườn bên phải. Nếu sờ dưới bờ sườn phải có thể thấy gan to.
- Có thể kèm theo co giật khi sốt cao.
- Nổi các nốt xuất huyết dưới da, là các điểm xuất huyết li ti. Nếu dùng dây garot thắt cánh tay khoảng 5 – 10 phút thì sẽ thấy xuất hiện các nốt xuất huyết rất nhiều, có khi tạo thành mảng.
- Nếu bệnh nặng có thể xuất huyết đường tiêu hoá gây ói ra máu, tiêu ra máu.
- Nặng hơn nữa thì xuất huyết não, màng não dễ bị tử vong.
- Trạng thái sốc: thường rơi vào ngày sốt thứ 3 – 5. Bệnh nhân bứt rứt, lừ đừ, tay chân lạnh, tím tái, thở nhanh, mạch yếu có khi không bắt được, huyết áp hạ không đo được, huyết áp kẹp (là trị số giữa huyết áp tối đa và tối thiểu < 20mmHg).
Xử trí:
Khi có các dấu hiệu kể trên (chỉ cần thấy sốt cao và có nốt xuất huyết dưới da, xuất huyết niêm mạc), nên đem bệnh nhân đến cơ sở y tế để khám và điều trị.
Bác sĩ sẽ cho xét nghiệm máu thêm, thấy tiểu cầu giảm <100.000/mm3, dung tích hồng cầu (Hct) tăng nhiều do máu bị cô đặc.
Trong khi chờ đợi đi khám bệnh, cho bệnh nhân uống thật nhiều nước. Uống dung dịch ORS (bán nhiều ở các nhà thuốc tây) 1gói pha với 1 lít nước sạch,  uống kèm theo nước trái cây, nước dừa...
Bệnh nhân sốt cao có thể uống thuốc hạ nhiệt như Paracetamol nhưng chú ý không được dùng Aspyrine vì sẽ gây xuất huyết nặng hơn và dễ gây sốc.
Sốt xuất huyết nặng sẽ được điều trị ở bệnh viện và cho truyền dịch hoặc truyền máu để bù khối lượng tuần hoàn.
Sốt xuất huyết nhẹ sẽ được điều trị ngoại trú và cần nhập viện ngay nếu thấy bệnh nhân li bì, bứt rứt, đau bụng nhiều, nôn ói, tay chân lạnh, tiểu ít, nhiệt độ giảm đột ngột.
Đề phòng:
Hiện nay chưa có thuốc chủng ngừa và chưa có thuốc điều trị đặc hiệu đối với bệnh sốt xuất huyết. Do đó, phòng bệnh vẫn là biện pháp chính để không bị sốt xuất huyết bằng cách:
- Vệ sinh ngoại cảnh: dọn dẹp bùn lầy, nước đọng, phát quang xung quanh nhà, thu dẹp các vật có nước đọng có thể làm nơi cho muỗi đẻ.
- Nuôi cá bảy màu ăn lăng quăng ở các bể chứa nước; các lu nước nên đậy nắp kín.
- Nhà cửa phải sáng sủa, thông thoáng, không treo nhiều quần áo trên vách nhà.
- Nên dùng cửa lưới để ngăn muỗi
- Dùng thuốc xịt muỗi để giết muỗi
- Ngủ mùng, thoa thuốc chống muỗi, đốt nhang đuổi muỗi.
Tóm lại sốt xuất huyết là một bệnh nguy hiểm và phổ biến lại chưa có thuốc chữa và thuốc ngừa. Vì vậy diệt muỗi và không để muỗi chích là biện pháp hữu hiệu nhất để tránh bệnh sốt xuất huyết.
BS NGUYỄN ĐÌNH SANG
Tuổi Trẻ


Thứ Sáu, 27 tháng 9, 2013

Theo nhận xét của giới chuyên môn, từ tháng 1 đến tháng 5 hằng năm là mùa của thủy đậu, căn bệnh gây nhiều khó chịu và những biến chứng nguy hiểm ít ai ngờ tới. Mặc dù đây là bệnh “khá quen” đối với nhiều người, nhưng những hiểu biết sai về bệnh vẫn còn phổ biến


1. Thủy đậu là bệnh nhẹ. SAI
Bệnh thường diễn tiến nhẹ, nhưng đây không phải là bệnh lành tính mà có thể gây những biến chứng nguy hiểm từ nhiễm trùng nốt rạ, nhiễm trùng huyết đến những tác hại về thần kinh như viêm não, viêm màng não, viêm phổi dẫn đến tử vong. Biến chứng phổ biến nhất ở trẻ em là nhiễm trùng da và mô mềm để lại sẹo vĩnh viễn trên da.
2. Bệnh chỉ xảy ra cho trẻ em. SAI
Bệnh thường xảy ra ở trẻ em, từ 5 đến 11 tuổi, nhưng thanh thiếu niên và người lớn cũng có thể nhiễm bệnh nếu họ chưa từng mắc bệnh này hoặc chưa tiêm ngừa.
3. Mắc bệnh này thì cần kiêng gió, kiêng nước. SAI
Quan niệm này rất phổ biến trong dân gian, nhưng hoàn toàn sai. Do đặc trưng của bệnh là phát ban kiểu bóng nước ở da và niêm mạc, nên càng kiêng gió, kiêng nước thì càng dễ dẫn đến nhiễm trùng da. Trong một nghiên cứu ở Đài Loan, 44,1% bệnh nhân bị biến chứng nhiễm trùng da và mô mềm.
4. Phụ nữ mang thai mà bị bệnh thủy đậu thì chẳng hề gì. SAI
Thai phụ mắc bệnh thủy đậu có nhiều nguy cơ dẫn đến hội chứng thủy đậu bẩm sinh với tỉ lệ chung là 1% ở phụ nữ nhiễm bệnh trong 20 tuần đầu tiên của thai kỳ, trong đó 0,4% nguy cơ từ 0-12 tuần và 2% từ tuần 13-20. Hội chứng thủy đậu bẩm sinh bao gồm trẻ sinh ra bị nhẹ cân, sẹo da, loạn sản chi, đầu nhỏ, viêm hắc - võng mạc mắt, đục thủy tinh thể...
5. Như thế chỉ cần tiêm ngừa thủy đậu cho phụ nữ độ tuổi mang thai. SAI
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo tiêm ngừa thủy đậu cho mọi người lớn và thanh thiếu niên chưa từng mắc bệnh. Một nghiên cứu tại Singapore vào năm 1994-1995 cho thấy chỉ cần tốn 3,3 triệu USD tiêm ngừa thủy đậu sẽ tiết kiệm được 11,8 triệu USD chi phí hậu quả do bệnh này gây ra.

PHÒNG CHỐNG VIÊM GAN VI RÚT Ở TRẺ EMBS. QUANG MINH
 Viêm gan vi rút (VGVR) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính thường gặp, là một trong nhiều loại viêm gan. Nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới cho biết, đến nay đã phát hiện được 6 loại vi rút gây viêm gan khác nhau, được ký hiệu bằng các chữ A, B, C, D, E, G. Gần đây nhất đã phát hiện được vi rút gây viêm gan mới được gọi là TT,


 VRVG A và B là 2 loại VRVG đã được phát hiện từ Đại chiến thế giới lần thứ 2 và đã có vắc xin để phòng bệnh. VRVG A và E lây truyền qua đường tiêu hóa; qua nước bọt, dùng chung dụng cụ ăn uống. Các loại vi rút gây viêm gan khác lây truyền qua đường máu như: tiêm chích, truyền máu, châm cứu... Mẹ mang thai có thể lây truyền sang cho con trong thời kỳ chu sinh cũng là một đường lây truyền quan trọng.
VRVG có thể gây nhiều tai biến nghiêm trọng như:  teo gan vàng cấp, hôn mê... dẫn đến tử vong nhanh chóng. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học: 25% bệnh nhân VGVR B và 75% bệnh nhân VGVR C có thể chuyển sang viêm gan mãn. Tỷ lệ tử vong do VGVR cũng khác nhau: VGVR B và VGVR C chỉ gây tử vong 1-4% ngay trong giai đoạn cấp. Nguy hiểm hơn, VGVR có thể gây xơ gan, ung thư gan. 
Các dấu hiệu VGVR: khi các cháu có các dấu hiệu như mệt mỏi, chán ăn, sốt, vàng da, vàng mắt, đái nước tiểu có màu vàng, vàng mắt, đau tức hạ sườn bên phải... đặc biệt là các dấu hiệu trên xuất hiện khi bệnh nhi vừa được tiêm chích, châm cứu, truyền máu, nhổ răng...hay trong gia đình, nhà trẻ mẫu giáo có trẻ mắc bệnh VGVR mà có các triệu chứng trên, cần cho trẻ đi khám bệnh và điều trị sớm. Thể bệnh nặng có thể gây sốt cao, mê sảng, co giật, hôn mê. 
Vài nét về điều trị VGVR: VGVR cần được điều trị sớm. điều trị tích cực: cho đến nay, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu đối với vi rút gây viêm gan. Chủ yếu là điều trị triệu chứng như thuốc nhuận gan mật, nâng cao thể trạng cho người bệnh... Một số thuốc diệt vi rút và Alpha-Intecpheron đã được áp dụng vào điều trị VRVG A và VRVG B nhưng giá thành còn rất đắt và hiệu quả còn hạn chế.
Chữa bệnh viêm gan vi rút bằng thuốc nam như thế nào? Nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy nhiều loại dược thảo có tác dụng diệt được vi rút như chè tươi, dấp cá, hành... Nhiều bài thuốc Đông y có tác dụng chữa bệnh VGVR đã được áp dụng trong nhân dân và các bệnh viện trong cả nước.
Bài 1: Hạt Dành dành (Chi tử), nhân trần mỗi thứ 6-12g, sắc uống hàng ngày. 
Bài 2: Diệp hạ châu (Kiềm vườn, cây chó đẻ răng cưa), rau má mỗi thứ một nắm nhỏ, sắc uống hàng ngày. Cây chó đẻ răng cưa là một cây thuốc qúi cũng được áp dụng trong nhân dân, có hiệu quả tốt trong điều trị. Bố mẹ trẻ có thể tự thu hái để điều trị cho con trẻ. Cây Diệp hạ châu mọc hoang ở nhiều nơi trong cả nước. Có thể dùng cây tươi hoặc cây khô, dùng thân, lá, bỏ rễ. Liều dùng 30-50g tươi ngày. Cây thuốc này có thể áp dụng điều trị cho VGVR cấp và viêm gan mãn, thậm chí còn có thể điều trị cho cả bệnh nhi bị xơ gan.
Bài 3: Nhân trần cao thang hợp phương: Nhân trần, chi tử (hạt Dành dành), Phục linh, Trư linh, Hoàng bá, Bạch truật, Đảng sâm, Hậu phác, mỗi thứ 12g; Trạch tả, Sa tiền, Cam thảo mỗi thứ 6g... Sắc uống ngày 1 thang, có tác dụng cải thiện chức năng gan, nâng đỡ thể trạng, kích thích tiêu hóa, hạ sốt, giảm vàng da, vàng mắt. 
Dự phòng bệnh viêm gan vi rút? bố mẹ trẻ cần biết:
 
- Tiêm vắc xin phòng VGVR cho trẻ và cho mẹ khi mang thai là việc cần thiết. Hiện nay mới chỉ có vắc xin VGVR A và B. Những trẻ được sinh ra do mẹ có phản ứng huyết thanh với VGVR B được khuyên nên tiêm vắc xin sớm.
- Trong gia đình có người VGVR A hoặc E cần cho ăn uống bằng bát đũa, dụng cụ ăn uống riêng.
- Có thể yêu cầu thầy thuốc tiêm Hunman gamma globulin 16% với liều 0,02 ml/kg cân nặng để dự phòng nhiễm vi rút viêm gan nếu có tiếp xúc với bệnh nhi hoặc khi đang có dịch VGVR A tại địa phương. Trẻ có nguy cơ nhiễm bệnh thường xuyên nên tiêm nhắc lại mỗi 4-6 tháng một lần.
- Cho trẻ ăn đủ chất, chống suy dinh dưỡng, ăn tăng rau xanh hoa quả tươi, hạn chế các đồ ăn chiên, rán gây khó tiêu... để nâng cao thể trạng và sức đề kháng cho trẻ.
Viện Thông tin thư viện y học Trung Ương.

Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013

Mùa mưa đã đến, những cơn mưa làm cho khí hậu bớt nóng khiến mọi người cảm thấy dễ chịu hơn. Tuy nhiên mùa mưa cũng là điều kiện thuận lợi cho muỗi sinh sôi và phát triển, do đó bệnh sốt xuất huyết cũng theo đó mà bùng phát nhiều hơn.


Bệnh sốt xuất huyết là gì? Đó là một bệnh nhiễm trùng do virus Dengue gây ra. Nó gây ra sốt, xuất huyết, truỵ tim mạch và có thể tử vong nếu không xử trí kịp thời và đúng đắn.
Bệnh sốt xuất huyết được lây truyền từ người bệnh sang người lành bởi con muỗi vằn Aedes aegypty. Muỗi thường sống xung quanh nhà. Muỗi cái thường hút máu người bệnh vào ban ngày và chích vào người lành làm lây lan bệnh.
Bệnh thường xảy ra ở trẻ em, nhất là từ 2 – 9 tuổi. Tuy nhiên ngày nay cũng thường thấy bệnh xảy ra ở cả người lớn nữa!
Các dấu hiệu nhận biết bệnh sốt xuất huyết:
- Sốt cao đột ngột kèm theo đau nhức mình mẩy, nhức đầu, đau khớp, chán ăn, ói mửa, đau họng.
- Đau bụng vùng thượng vị (vùng bụng ở ngay dưới mũi xương ức), hoặc đau vùng dưới bờ sườn bên phải. Nếu sờ dưới bờ sườn phải có thể thấy gan to.
- Có thể kèm theo co giật khi sốt cao.
- Nổi các nốt xuất huyết dưới da, là các điểm xuất huyết li ti. Nếu dùng dây garot thắt cánh tay khoảng 5 – 10 phút thì sẽ thấy xuất hiện các nốt xuất huyết rất nhiều, có khi tạo thành mảng.
- Nếu bệnh nặng có thể xuất huyết đường tiêu hoá gây ói ra máu, tiêu ra máu.
- Nặng hơn nữa thì xuất huyết não, màng não dễ bị tử vong.
- Trạng thái sốc: thường rơi vào ngày sốt thứ 3 – 5. Bệnh nhân bứt rứt, lừ đừ, tay chân lạnh, tím tái, thở nhanh, mạch yếu có khi không bắt được, huyết áp hạ không đo được, huyết áp kẹp (là trị số giữa huyết áp tối đa và tối thiểu < 20mmHg).
Xử trí:
Khi có các dấu hiệu kể trên (chỉ cần thấy sốt cao và có nốt xuất huyết dưới da, xuất huyết niêm mạc), nên đem bệnh nhân đến cơ sở y tế để khám và điều trị.
Bác sĩ sẽ cho xét nghiệm máu thêm, thấy tiểu cầu giảm <100.000/mm3, dung tích hồng cầu (Hct) tăng nhiều do máu bị cô đặc.
Trong khi chờ đợi đi khám bệnh, cho bệnh nhân uống thật nhiều nước. Uống dung dịch ORS (bán nhiều ở các nhà thuốc tây) 1gói pha với 1 lít nước sạch,  uống kèm theo nước trái cây, nước dừa...
Bệnh nhân sốt cao có thể uống thuốc hạ nhiệt như Paracetamol nhưng chú ý không được dùng Aspyrine vì sẽ gây xuất huyết nặng hơn và dễ gây sốc.
Sốt xuất huyết nặng sẽ được điều trị ở bệnh viện và cho truyền dịch hoặc truyền máu để bù khối lượng tuần hoàn.
Sốt xuất huyết nhẹ sẽ được điều trị ngoại trú và cần nhập viện ngay nếu thấy bệnh nhân li bì, bứt rứt, đau bụng nhiều, nôn ói, tay chân lạnh, tiểu ít, nhiệt độ giảm đột ngột.
Đề phòng:
Hiện nay chưa có thuốc chủng ngừa và chưa có thuốc điều trị đặc hiệu đối với bệnh sốt xuất huyết. Do đó, phòng bệnh vẫn là biện pháp chính để không bị sốt xuất huyết bằng cách:
- Vệ sinh ngoại cảnh: dọn dẹp bùn lầy, nước đọng, phát quang xung quanh nhà, thu dẹp các vật có nước đọng có thể làm nơi cho muỗi đẻ.
- Nuôi cá bảy màu ăn lăng quăng ở các bể chứa nước; các lu nước nên đậy nắp kín.
- Nhà cửa phải sáng sủa, thông thoáng, không treo nhiều quần áo trên vách nhà.
- Nên dùng cửa lưới để ngăn muỗi
- Dùng thuốc xịt muỗi để giết muỗi
- Ngủ mùng, thoa thuốc chống muỗi, đốt nhang đuổi muỗi.
Tóm lại sốt xuất huyết là một bệnh nguy hiểm và phổ biến lại chưa có thuốc chữa và thuốc ngừa. Vì vậy diệt muỗi và không để muỗi chích là biện pháp hữu hiệu nhất để tránh bệnh sốt xuất huyết.
BS NGUYỄN ĐÌNH SANG
Tuổi Trẻ

Mùa mưa đã đến, những cơn mưa làm cho khí hậu bớt nóng khiến mọi người cảm thấy dễ chịu hơn. Tuy nhiên mùa mưa cũng là điều kiện thuận lợi cho muỗi sinh sôi và phát triển, do đó bệnh sốt xuất huyết cũng theo đó mà bùng phát nhiều hơn.


Bệnh sốt xuất huyết là gì? Đó là một bệnh nhiễm trùng do virus Dengue gây ra. Nó gây ra sốt, xuất huyết, truỵ tim mạch và có thể tử vong nếu không xử trí kịp thời và đúng đắn.
Bệnh sốt xuất huyết được lây truyền từ người bệnh sang người lành bởi con muỗi vằn Aedes aegypty. Muỗi thường sống xung quanh nhà. Muỗi cái thường hút máu người bệnh vào ban ngày và chích vào người lành làm lây lan bệnh.
Bệnh thường xảy ra ở trẻ em, nhất là từ 2 – 9 tuổi. Tuy nhiên ngày nay cũng thường thấy bệnh xảy ra ở cả người lớn nữa!
Các dấu hiệu nhận biết bệnh sốt xuất huyết:
- Sốt cao đột ngột kèm theo đau nhức mình mẩy, nhức đầu, đau khớp, chán ăn, ói mửa, đau họng.
- Đau bụng vùng thượng vị (vùng bụng ở ngay dưới mũi xương ức), hoặc đau vùng dưới bờ sườn bên phải. Nếu sờ dưới bờ sườn phải có thể thấy gan to.
- Có thể kèm theo co giật khi sốt cao.
- Nổi các nốt xuất huyết dưới da, là các điểm xuất huyết li ti. Nếu dùng dây garot thắt cánh tay khoảng 5 – 10 phút thì sẽ thấy xuất hiện các nốt xuất huyết rất nhiều, có khi tạo thành mảng.
- Nếu bệnh nặng có thể xuất huyết đường tiêu hoá gây ói ra máu, tiêu ra máu.
- Nặng hơn nữa thì xuất huyết não, màng não dễ bị tử vong.
- Trạng thái sốc: thường rơi vào ngày sốt thứ 3 – 5. Bệnh nhân bứt rứt, lừ đừ, tay chân lạnh, tím tái, thở nhanh, mạch yếu có khi không bắt được, huyết áp hạ không đo được, huyết áp kẹp (là trị số giữa huyết áp tối đa và tối thiểu < 20mmHg).
Xử trí:
Khi có các dấu hiệu kể trên (chỉ cần thấy sốt cao và có nốt xuất huyết dưới da, xuất huyết niêm mạc), nên đem bệnh nhân đến cơ sở y tế để khám và điều trị.
Bác sĩ sẽ cho xét nghiệm máu thêm, thấy tiểu cầu giảm <100.000/mm3, dung tích hồng cầu (Hct) tăng nhiều do máu bị cô đặc.
Trong khi chờ đợi đi khám bệnh, cho bệnh nhân uống thật nhiều nước. Uống dung dịch ORS (bán nhiều ở các nhà thuốc tây) 1gói pha với 1 lít nước sạch,  uống kèm theo nước trái cây, nước dừa...
Bệnh nhân sốt cao có thể uống thuốc hạ nhiệt như Paracetamol nhưng chú ý không được dùng Aspyrine vì sẽ gây xuất huyết nặng hơn và dễ gây sốc.
Sốt xuất huyết nặng sẽ được điều trị ở bệnh viện và cho truyền dịch hoặc truyền máu để bù khối lượng tuần hoàn.
Sốt xuất huyết nhẹ sẽ được điều trị ngoại trú và cần nhập viện ngay nếu thấy bệnh nhân li bì, bứt rứt, đau bụng nhiều, nôn ói, tay chân lạnh, tiểu ít, nhiệt độ giảm đột ngột.
Đề phòng:
Hiện nay chưa có thuốc chủng ngừa và chưa có thuốc điều trị đặc hiệu đối với bệnh sốt xuất huyết. Do đó, phòng bệnh vẫn là biện pháp chính để không bị sốt xuất huyết bằng cách:
- Vệ sinh ngoại cảnh: dọn dẹp bùn lầy, nước đọng, phát quang xung quanh nhà, thu dẹp các vật có nước đọng có thể làm nơi cho muỗi đẻ.
- Nuôi cá bảy màu ăn lăng quăng ở các bể chứa nước; các lu nước nên đậy nắp kín.
- Nhà cửa phải sáng sủa, thông thoáng, không treo nhiều quần áo trên vách nhà.
- Nên dùng cửa lưới để ngăn muỗi
- Dùng thuốc xịt muỗi để giết muỗi
- Ngủ mùng, thoa thuốc chống muỗi, đốt nhang đuổi muỗi.
Tóm lại sốt xuất huyết là một bệnh nguy hiểm và phổ biến lại chưa có thuốc chữa và thuốc ngừa. Vì vậy diệt muỗi và không để muỗi chích là biện pháp hữu hiệu nhất để tránh bệnh sốt xuất huyết.
BS NGUYỄN ĐÌNH SANG
Tuổi Trẻ


Thứ Tư, 25 tháng 9, 2013

Sốt cao là biểu hiện của nhiều bệnh nhiễm trùng khác nhau, tác nhân gây bệnh có thể là vi khuẩn hoặc siêu vi.
1. Trong mùa mưa trẻ sốt cao là do mắc bệnh sốt xuất huyết (SXH). SAISốt cao là biểu hiện của nhiều bệnh nhiễm trùng khác nhau, tác nhân gây bệnh có thể là vi khuẩn hoặc siêu vi. Tuy nhiên, trong mùa mưa cần lưu ý đặc biệt đến SXH vì bệnh này diễn tiến với nhiều bất ngờ, trường hợp nặng có thể dẫn đến tử vong.


2. Trẻ sốt cao nên để ở nhà theo dõi và cho uống thuốc hạ sốt, 2-3 ngày sau không hết sốt mới đưa đến bệnh viện khám. SAI
Vẫn phải đưa trẻ đi khám bệnh ngay để tìm nguyên nhân gây sốt. Bởi đó có thể chỉ là sốt thông thường do mọc răng hoặc là triệu trứng của căn bệnh phức tạp khác. Trường hợp sốt do bệnh SXH thì việc đưa đến bệnh viện điều trị sớm khi có biến chứng sẽ giảm đáng kể tỉ lệ tử vong.
3. Thuốc hạ sốt nào cũng dùng được cho trẻ nhỏ. SAI
Thuốc hạ sốt an toàn nhất cho trẻ là nhóm Acetaminophen (Paracetamol, Acemol...). Không nên cho trẻ dùng các loại thuốc hạ sốt chứa Aspirine, vì tác dụng phụ của thuốc này là gây xuất huyết, do đó nếu dùng cho một trẻ đang bị SXH thì cực kỳ nguy hiểm. Tuy nhiên, khi trẻ sốt, ngoài sử dụng thuốc cho trẻ, các bậc cha mẹ cũng nên kết hợp với việc lau mát vì phương pháp tự nhiên này rất an toàn và khá hiệu quả.
4. Cả trẻ em và người lớn đều có thể bị SXH. ĐÚNG
Ở độ tuổi nào cũng có nguy cơ mắc bệnh SXH. Trước đây, bệnh này thường gặp ở trẻ em nhưng nay người lớn cũng mắc bệnh SXH khá nhiều.
5. Vệ sinh môi trường quanh nhà là biện pháp phòng chống SXH tốt nhất. ĐÚNG
Vì những góc nhà bẩn, lu đựng nước lâu ngày... là nơi trú ngụ của muỗi và lăng quăng. Dọn sạch những nơi này muỗi không còn chỗ phát triển, như thế bệnh SXH khó có thể xảy ra.

Ngày 4/7, BS Nguyễn Thị Thúy, phó trưởng Khoa Nhiễm BV Nhi Đồng II, cảnh báo nhũ nhi dưới 18 tháng tuổi, nếu mắc bệnh sốt xuất huyết thường nặng hơn so với các trẻ lớn, do khó phát hiện và dễ lầm với các bệnh khác.


 Đến 10 giờ sáng ngày 4/7, Khoa Nhiễm BV Nhi Đồng II đang tiếp nhận và điều trị cho 30 trẻ mắc bệnh sốt xuất huyết trong đó có 3 trẻ nhũ nhi khoảng từ 6 - 7 tháng tuổi.
Tổng số bệnh sốt xuất huyết tại Khoa Nhiễm vào thời điểm này chiếm từ một phần ba đến hơn một nửa so với các bệnh truyền nhiễm khác như viêm não, bệnh tay chân miệng.
 Theo số liệu thống kê 6 tháng đầu năm 2006 của BV Nhi Đồng II, Khoa Nhiễm đã nhận và điều trị cho 870 bệnh nhân sốt xuất huyết, trong đó bệnh nhân độ I chiếm 149, độ II là 649, độ III là 65, độ IV là 7. So với cùng kỳ năm ngoái, bệnh nhân sốt xuất huyết chỉ có hơn 440 trẻ trong đó độ II là 326, độ III là 46. 
Theo BS Thúy, vào mùa mưa, có những giờ cao điểm trong khoa có đến 60 bệnh nhân nhi mắc bệnh sốt xuất huyết, trong khi toàn khoa chỉ có 100 giường bệnh.
Đồng thời, týp vi-rút gây sốt xuất huyết chủ yếu được xác định trong 5 tháng qua là týp 2, một týp có độc lực cao và dễ có khả năng gây thành dịch lớn.
Triệu chứng bệnh sốt xuất huyết ở nhũ nhi thường là sốt cao, ho, sổ mũi, tiêu chảy. Do đó, khi trẻ bị bệnh sốt xuất huyết thường dễ lầm với các bệnh khác như: tiêu chảy, viêm phế quản, viêm hô hấp trên.
Đối với các bậc phụ huynh, đặc biệt là các bà mẹ có con là nhũ nhi,khi trẻ bị sốt cao trên 2 ngày, quấy khóc, ói, bỏ ăn kèm theo xuất huyết dưới da, phải lập tức đưa trẻ đến khám tại các Trung tâm Y tế quận, huyện để bác sĩ chỉ định xét nghiệm máu, theo dõi diễn tiến bệnh.
Khi chăm sóc trẻ sốt xuất huyết tại nhà, khi cho trẻ uống thuốc hạ sốt, các bậc phụ huynh tránh dùng aspirin và ibuprofen. Hai loại thuốc này có thể gây xuất huyết đường tiêu hóa. Trẻ sốt cao có thể đắp mát để giúp hạ thân nhiệt và cho trẻ uống nhiều nước.

Thứ Ba, 24 tháng 9, 2013

Tay-chân-miệng là bệnh nhiễm trùng phổ biến ở trẻ dưới 5 tuổi. Bệnh tay-chân-miệng thường hình thành các ổ dịch nhỏ trong những trường mầm non.
Bệnh do Enterovirus 71 và Coxsakie Theo Sở Y tế TPHCM, hiện nay bệnh “tay - chân - miệng” (hand-foot-and-mouth disease) đang có khuynh hướng gia tăng từ những ngày nhập học.


Tại Bệnh viện Nhi đồng 1, mỗi tuần có khoảng 300 trường hợp khám bệnh “tay - chân - miệng”, trong đó có trên 30 trường hợp phải nhập viện do bị biến chứng lên não, thần kinh, viêm cơ tim, liệt chi…
Nguyên nhân gây bệnh này là do các loại siêu vi Enterovirus 71 và Coxsakie. Bệnh lây qua đường nước bọt, phân và dịch tiêu hóa. Bệnh thường xảy ra ở trẻ nhỏ dưới 3 tuổi nhưng đến nay vẫn chưa có vaccine phòng bệnh hoặc thuốc đặc trị.
Bệnh có biểu hiện đặc trưng là sốt, xuất hiện hồng ban và tổn thương loét ở niêm mạc miệng làm cho trẻ biếng ăn và bóng nước (mụn phỏng, 2-10mm) ở mu tay và mu chân trong nhiều ngày. Triệu chứng thần kinh như: sốt cao, đau đầu, nôn mửa.
Thường thì bệnh thường chỉ kéo dài vài ngày, bệnh nhân có thể tự cải thiện và hồi phục. Nếu cần có thể sử dụng một số thuốc giảm đau thông thường để đỡ khó chịu do mụn rộp trong miệng. Tuy nhiên, chớ nên coi thường vì bệnh có thể gây ra các biểu hiện thần kinh cấp tính, đôi khi dẫn đến viêm màng não vô trùng, viêm não tủy hoặc thậm chí liệt mềm cấp giống như viêm tủy xám bại liệt.
Người ta chia bệnh thành 4 cấp độ: Giai đoạn 1, xuất hiện hồng ban, bóng nước và có thể gây biến chứng; Giai đoạn 2, có ảnh hưởng đến thần kinh trung ương (như viêm não hoặc viêm màng não); Giai đoạn 3, suy hô hấp, phù phổi, huyết áp không bình thường (tăng hoặc giảm); Giai đoạn 4, hồi phục hoặc tử vong.
Dễ gây biến chứng
Một nghiên cứu ở Đài Loan trên 41 trẻ bị bệnh “tay - chân - miệng” cho thấy: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 2,5 tuổi (từ 3 tháng đến 8,2 tuổi). Có 28 bệnh nhân bị bệnh này (68%), có 6 bệnh nhân có viêm họng herpes và 7 bệnh nhân khác không có tổn thương da hay niêm mạc.
Ba hội chứng thần kinh được ghi nhận là: viêm não vô trùng (ở 3 bệnh nhân); viêm thân não (37 bệnh nhân) và liệt mềm cấp (4 bệnh nhân, sau đó có 3 bệnh nhân viêm thân não). Trong 20 bệnh nhân viêm thân não, đặc trưng của hội chứng là phản xạ rung giật cơ, thất điều vận động, hoặc cả hai (bệnh độ 1). Mười bệnh nhân bị rung giật cơ và tổn thương thần kinh sọ (bệnh độ 2). Bảy bệnh nhân nhiễm virus thân não có biểu hiện rung giật cơ thoáng qua, tiếp theo là khởi phát nhanh suy hô hấp, tím tái, giảm tưới máu ngoại vi, sốc, hôn mê, mất phản xạ mắt búp bê và khó thở (bệnh độ 3); 5 bệnh nhân trong số này tử vong trong vòng 12 giờ sau nhập viện.
Có 17 trong số 24 bệnh nhân bị viêm thân não được chụp MRI, cho thấy hình ảnh tổn thương đậm độ cao ở vùng thân não, thường gặp nhất ở chỏm cầu não. Khi tái khám, 2 bệnh nhân có liệt mềm cấp bị di chứng yếu chi và 5 bệnh nhân có viêm thân não bị di chứng khiếm khuyết thần kinh dai dẳng, gồm rung giật cơ (1 trẻ), tổn thương thần kinh sọ (2 trẻ) và ngưng thở lệ thuộc máy thở (2 trẻ).
Nghiên cứu cho biết các biến chứng thần kinh chính là viêm thân não, có tỷ lệ tử vong là 14%. Các triệu chứng khởi đầu thường gặp nhất là rung giật cơ, và chụp MRI thường cho thấy bằng chứng về tổn thương thân não.
Phòng ngừa và điều trị
Bệnh “tay - chân - miệng” có thể phòng ngừa được bằng cách giữ vệ sinh thân thể sạch sẽ, nên rửa tay bằng xà bông diệt khuẩn cho trẻ trước khi ăn, thực hiện chế độ ăn chín, uống sôi. Cần cách ly trẻ với môi trường bị nhiễm bệnh, đặc biệt là dụng cụ học tập, đồ chơi.
Trong trường hợp trẻ bị bệnh, việc phát hiện sớm và điều trị đúng cách sẽ quyết định giảm tỷ lệ tử vong và di chứng. Tùy từng trường hợp, thể trạng, giới tính, tuổi tác cấp độ bệnh mà có giải pháp điều trị khác nhau. Đối với trường hợp ở cấp độ 1, bệnh nhân có thể điều trị ngoại trú, nghỉ ngơi, tránh những yếu tố gây kích thích. Theo dõi chặt chẽ và tái khám mỗi ngày. Từ cấp độ 2 trở lên thì trẻ cần được đưa vào trung tâm y tế để điều trị tích cực bằng kháng sinh, chống phù não, bảo đảm đường thông khí, phát hiện và điều trị bội nhiễm…

Bác sĩ Nguyễn Văn Lâm, Khoa truyền nhiễm, Bệnh viện Nhi Trung ương, cảnh báo: “Đây là thời điểm thuận lợi để bệnh thuỷ đậu phát triển. Nếu cha mẹ không biết cách phòng ngừa bệnh sẽ dẫn đến nhiễm trùng, viêm phổi, viêm não".

 
Bệnh thủy đậu không nặng nhưng phức tạp và dễ biến chứng.

Bệnh lây nhiễm do virus

Theo BS Lâm, thuỷ đậu là bệnh nhiễm virus cấp tính toàn thân với khởi bệnh đột ngột, sốt nhẹ, sau đó ở da xuất hiện những nốt phỏng nước như hạt đậu. Sau 3-4 ngày, những nốt phỏng bắt đầu xẹp nước và để lại những nốt vảy. 

Các tổn thương của nốt đậu thường xuất hiện nhiều ở chỗ kín hơn chỗ hở, thường mọc nhiều ở các vùng như: Da đầu, hố nách, niêm mạc miệng, đường hô hấp trên, kết mạc. Trong một vài trường hợp, bệnh ở thể ẩn, không xuất hiện những nốt phỏng.

BS Lâm khẳng định, bệnh thuỷ đậu là một trong những bệnh truyền nhiễm dễ lây nhất, nhất là ở giai đoạn đầu mới phát ban. Cơ chế lây truyền là từ người sang người bằng tiếp xúc trực tiếp. Khi tiếp xúc, những giọt nước bọt bắn trong không khí có chứa virus gây bệnh thuỷ đậu sẽ dễ dàng lây sang người lành, nhất là trẻ nhỏ vốn có sức đề kháng yếu ớt. 

Vì vậy, ở những nơi tập trung đông trẻ như các trường mẫu giáo, các trường tiểu học, nếu xuất hiện một vài ca bệnh thuỷ đậu sẽ rất dễ lây lan thành dịch. Thời kỳ ủ bệnh thường từ 2-3 tuần. Thời kỳ lây truyền dài nhất là 5 ngày, thường từ 1-2 ngày trước khi phát ban và không quá 5 ngày sau khi xuất hiện lớp phỏng rạ đầu tiên.

Điều trị đúng cách

“Phải cách ly với người lành ngay khi bé có dấu hiệu mắc bệnh”, bs Lâm khuyến cáo. Tốt nhất là cho trẻ nghỉ học để tránh lây sang các trẻ khác. Tất cả đồ dùng cá nhân của người bệnh đều được dùng riêng, nhất là bát, đũa, khăn mặt. 

Khi trẻ mắc bệnh, cần đưa trẻ đi khám bác sĩ, không được tự ý tắm cho trẻ bằng các loại lá theo chỉ dẫn truyền miệng dân gian để tránh tình trạng bội nhiễm, nhất là nhiễm trùng máu rất nguy hiểm, có thể dẫn đến tử vong. Tuỳ tình trạng bệnh, bác sĩ sẽ đưa ra phác đồ điều trị thích hợp, trong đó thuốc đặc hiệu để diệt virus là không thể thiếu. 

Kết quả cho thấy, điều trị đặc hiệu bằng cả 2 loại thuốc vidarabin (adenin arabinosit, Ara-A) và acycclovir (zovirax) đều có hiệu quả tốt, nhưng bệnh nhân cần được điều trị sớm trong vòng 24 giờ sau khi nổi các nốt phỏng.

Đặc biệt, thuốc acycclovir có tác dụng rút ngắn thời gian biểu hiện triệu chứng và đau ở những người cao tuổi. Phần lớn, nếu ở thể nhẹ, bệnh nhân sẽ được chỉ định bôi dung dịch xanhmethilen.

Tiêm vaccine để phòng bệnh

BS Lâm cũng cho hay, cách phòng bệnh tốt nhất hiện nay là tiêm vaccine. Liều đơn 0,5ml tiêm dưới da, tiêm cho trẻ cảm nhiễm từ 12 tháng đến 12 tuổi. Hiệu lực bảo vệ của vaccine này từ 70-90% trong vòng 3-6 năm. 

Tuy nhiên, trong thực tế có những trường hợp đã tiêm phòng vaccine nhưng vẫn mắc bệnh. 

Phần lớn các trường hợp đã tiêm phòng mắc bệnh đều ở thể nhẹ, các nốt phỏng sẽ ít hơn, triệu chứng lâm sàng (sốt, ho, bội nhiễm) sẽ ít hơn. Những người có những bệnh mạn tính làm suy giảm hệ miễn dịch nên được tiêm nhắc lại vaccine liều thứ 2, khoảng cách với liều đầu khoảng 4 tuần

Những biến chứng nguy hiểm của bệnh thuỷ đậu

Bệnh thuỷ đậu khá nguy hiểm, trong trường hợp để bệnh tiến triển quá nặng, sẽ dẫn đến biến chứng viêm phổi virus tiên phát, viêm thận, viêm tuỵ. Còn ở trẻ em bệnh thường gây biến chứng nhiễm trùng huyết và viêm màng não. 

Đặc biệt, phụ nữ trong thời kỳ mang thai cần lưu ý: Nhiễm bệnh trong 3 tháng đầu của thời kỳ mang thai có thể liên quan đến dị tật bẩm sinh! Kết quả theo dõi cho thấy, có tới 25% thai nhi sẽ bị ảnh hưởng nếu người mẹ mắc bệnh thủy đậu trong thời kỳ đầu của thai kỳ. 

Điều nguy hiểm là phụ nữ mang thai nếu mắc bệnh thuỷ đậu trong vòng 1 tuần trước và sau khi sinh thì có tới 30% trẻ em sinh ra có thể bị tử vong do mắc hội chứng thuỷ đậu do bị nhiễm bệnh thuỷ đậu từ mẹ quá sớm. 

Thứ Bảy, 21 tháng 9, 2013

a. Thuỷ đậu
Bệnh này là một bệnh nhẹ do virus gây nên. Khi một trẻ lây bệnh từ một trẻ khác thì 2-3 tuần sau mới có biểu hiện.


Dấu hiệu:

Trước tiên xuất hiện rất nhiều nốt nhỏ, đỏ, ngứa. Những nốt này trở thành nốt mụn phồng nước, những mụn này vỡ ra và cuối cùng đóng vẩy. Thường mụn bắt đầu xuất hiện ở trên người và sau đó ở mặt, tay và chân. Có thể cùng một lúc có những chỗ phồng nước, chỗ dộp, chỗ đóng vẩy. Thường sốt nhẹ.


Cách chữa:

Bệnh khỏi sau 1 tuần. Hằng ngày tắm cho trẻ bằng xà phòng và nước ấm. Cắt móng tay thật ngắn. Nếu có những nốt đóng vẩy bị loét cần bôi mỡ kháng sinh hoặc thuốc sát khuẩn.

b. Sởi

Bệnh nhiễm virus nặng này đặc biết nguy hiểm ở những trẻ em nuôi dưỡng kém hoặc bị bệnh lao. Sau mươi ngày ở gần một trẻ bị sởi, trẻ bắt đầu có dấu hiệu của cảm sốt, sổ mũi, đau mắt đỏ và ho. Trẻ ngày càng ốm. Mồm có thể bị loét và có thể bị ỉa chảy. Sau 2 hay 3 ngày, một số nốt trắng như những hạt muối xuất hiện ở trong mồm. 1-2 ngày sau, những nổt ban xuất hiện - trước tiên ở sau tai và cổ, rồi nổi lên ở mặt, người và cuối cùng ở tay, chân. Sau khi ban nổi, trẻ thường có vẻ đỡ hơn. Ban kéo dài khoảng 5 ngày.

Cách chữa

* Trẻ cần nghỉ tại giường, uống nhiều chất lỏng, và cho thức ăn bổ. Đối với các cháu nhỏ không bú được, cho ăn sữa mẹ bằng thìa.

* Dùng thuốc hạ sốt và giảm ngứa.

* Nếu bị đau tai, dùng kháng sinh.

* Nếu thấy có dấu hiệu viêm phổi, viêm màng não, hoặc đau nhiều ở tai hoặc ở bụng, cần đi khám bệnh.

Đề phòng bệnh sởi

Trẻ em bị sởi nên tránh không lại gần các trẻ em khác. Nên đặc biệt chú ý bảo vệ các em ăn uống thiếu thốn hoặc bị lao, hoặc bị những bệnh kinh niên khác. Trẻ em khỏe không nên đến các gia đình đang có người lên sởi. Trẻ em chưa mắc bệnh sởi trong một gia đình đang có bệnh sởi không được đi học hay đi đến các nơi đông người trong thời gian 10 ngày.

Muốn tránh cho trẻ em khỏi chết vì bệnh sởi. Cần cho trẻ ăn tốt. Cần tiêm chủng phòng bệnh sởi khi trẻ được 9 tháng tuổi.

c. Rubella

Bệnh Rubeon không nặng như bệnh sởi thông thường. Bệnh kéo dài 3-4 ngày. Ban phát nhẹ hơn. Đôi khi có hạch ở sau đầu, cổ sưng và đau.

Trẻ mắc bệnh phải nằm nghỉ tại giường và uống thuốc giảm đau nếu cần.

Phụ nữ mắc bệnh này vào lúc có thai được 3 tháng, có thể con đẻ ra có tổn thương hoặc bị dị dạng bẩm sinh. Vì vậy phụ nữ có thai, chưa bị bệnh rubeon này, nên tránh xa những trẻ em đang bị bệnh.

d. Quai bị

Dấu hiệu đầu tiên bắt đầu có sau khi bị lây từ một người bị quai bị 2-3 tuần.

Bệnh bắt đầu bằng sốt và có cảm giác đau khi há mồm hay nhai. Sau 2 ngày, sau tai và góc hàm thấy sưng rồi mới sang bên kia.

Cách chữa

Sau 10 ngày thì tự nhiên hết sưng mà không cần uống thuốc. Có thể uống thuốc hạ sốt, giảm đau. Cho thức ăn bổ, mềm và giữ cho miệng sạch.

Biến chứng

Ở người lớn và trẻ em trên 11 tuổi, sau tuần đầu có thể thấy đau ở bụng hoặc sưng, đau ở tinh hoàn (ở nam), hoặc ở vú (ở nữ). Người bị sưng như thế nên nằm hay ngồi yên một chỗ và đắp khăn lạnh vào chỗ sưng để giảm bớt đau và bớt sưng. Nếu có dấu hiệu viêm màng não, phải đi khám bệnh.

e. Ho gà

Bệnh ho gà bắt đầu từ 1-2 tuần sau khi bị lây từ trẻ ho gà khác. Ho gà khởi phát giống như bị cảm lạnh: Sốt, sổ mũi, và ho.

Hai tuần sau, cơn ho gà bắt đầu. Trẻ ho dồn dập nhiều lần, không kịp thở, cho đến khi khạc ra một cục nhày đặc, rồi trẻ lại hít hơi vào phổi với một tiếng rít. Khi ho như thế, môi, móng tay bị tím vì thiếu không khí. Sau cơ ho trẻ có thể nôn. Giữa các cơn ho, trẻ gần như có vẻ khỏe mạnh.

Ho gà thường hết sau 3 tháng hay lâu hơn.

Ho gà đặc biệt nguy hiểm đối với trẻ em dưới 1 tuổi, nên cần tiêm chủng sớm cho trẻ. Các trẻ nhỏ có thể bị ho gà nhưng không điển hình nên khó biết là bị ho gà. Nếu trẻ có những cơn ho, mắt sưng hay hum húp, trong khi xung quanh có một số trẻ bị ho gà thì nên điều trị ngay như ho gà.

Cách chữa:

* Vào giai đoạn đầu, trước khi cơn ho gà xuất hiện, nên dùng kháng sinh. Đối với trẻ em dưới 6 tháng, điều đặc biệt quan trọng là chữa sớm ngay khi thấy dấu hiệu đầu tiên.

* Trường hợp nặng, nhất là khi trẻ mất ngủ hay co giật, có thể dùng phenolbacbital.

* Để tránh cho trẻ khỏi bị sút cân và suy dinh dưỡng, nên cho ăn tốt và cho ăn lại ngay sau khi nôn.

Biến chứng

Có thể bị xuất huyết củng mạc mắt do ho gà, không cần phải điều trị. Nếu có co giật, hay dấu hiệu viêm phổi, viêm màng não cần đi khám bệnh.

g. Bạch hầu

Bệnh bắt đầu như cảm lạnh có sốt, nhức đầu và viêm họng. Có một màng màu vàng xám bám ở thành sau họng và có khi ở mũi và môi. Cổ trẻ có thể bị sưng. Hơi thở rất hôi.

Nếu nghi ngờ một trẻ bị bạch hầu:

- Để trẻ nằm cách ly trong một buồng riêng

- Đi khám bệnh ngay. Dùng kháng độc tố đặc biệt để chống bạch hầu.

- Uống pênicillin, viên 400.000 đơn vị, cho trẻ lớn uống 3 lần/ngày.

- Súc họng bằng nước muối ấm.

- Cho hít hơi nước nóng nhiều lần hay liên tục.

- Nếu trẻ bắt đầu khó thở và da trở nên tím, dùng miếng gạc quấn vào đầu ngón tay, gạt bỏ màng trắng bám ở trong họng.

Bạch hầu  là một bệnh nguy hiểm nhưng có thể đề phòng dễ dàng bằng cách tiêm chủng vắc-xin.

h. Bại liệt

Bệnh hay gặp nhất ở trẻ em dưới 2 tuổi.

Bệnh nhiễm virus này khởi phát như cảm có sốt, nôn, đau cổ. Đôi khi chỉ có thế. Nhưng cũng có khi một phần cơ thể bị yếu hay bị liệt. Thường có liệt một chân hoặc cả hai chân. Một thời gian sau chân liệt teo và không to nhanh như chân kia.

Cách chữa

Một khi bệnh đã phát ra, không có thuốc gì có thể làm hết liệt. Kháng sinh không có tác dụng. Châm cứu có thể giúp tình trạng khá hơn. Có thể dùng thuốc giảm đau non-steroid và đắp khăn nóng lên các cơ bị đau.

Phòng bệnh

Để trẻ bị bệnh trong một phòng riêng, cách ly với các trẻ khác. Người mẹ phải rửa tay sạch sau khi tiếp xúc với trẻ ốm. Cách phòng bệnh tốt nhất là uống vắc-xin phòng bại liệt khi trẻ được 2,3 và 4 tháng tuổi.

Một trẻ bị tàn tật do bại liệt, cần được bồi dưỡng và tập vận động để củng cố những cơ còn lại. Trong năm đầu một phần sức lực có thể trở lại.

Trẻ mắc bệnh thủy đậu, không được dùng thuốc Aspirine hoặc thuốc có chứa Aspirine. Phụ nữ có thai hoặc sắp có thai hãy cẩn trọng với  vắc-xin ngừa thủy đậu.


Bệnh thủy đậu đang lây lan nhanh tại nhiều địa phương. Riêng tại Bệnh viện Nhi Đồng 1, Nhi Đồng 2. Trong hai tháng đầu năm 2007, số trẻ mắc bệnh thủy đậu nhập viện tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ năm 2006.

Các bác sĩ còn cảnh báo: có thể bệnh thủy đậu sẽ tăng cao nhất ở tháng ba và kéo dài đến tháng năm. Việc phòng bệnh như thế nào và cần tránh những sai lầm gì?


Bác sĩ Lê Đức Thọ (Bệnh viện Hoàn Mỹ) trong bài trả trả lời trên báo Tuổi Trẻ, số ra ngày 19/3 đã có một số điều lưu ý các bậc phụ huynh trong việc chăm sóc cho trẻ mắc bệnh thủy đậu.

Không được uống thuốc Aspirine hoặc có chứa Aspirine

Đó là không gãi, nặn các nốt đậu vì sẽ gây bội nhiễm vi trùng; cắt ngắn móng tay, thoa các nốt đậu bằng dung dịch xanh Methylen. Có thể tắm bằng các dung dịch làm dịu cơn ngứa (Calamine) với nước ấm và dùng thuốc chống ngứa.

Ở một số nơi vẫn còn thói quen dùng gốc rạ để nấu nước tắm cho trẻ mắc bệnh thủy đậu, BS Lê Đức Thọ khuyến cáo, không dùng gốc rạ nấu nước tắm. Việc làm này hoàn toàn không hiệu quả mà còn có thể gây biến chứng nhiễm trùng.

Tuyệt đối không dùng Aspirine hay các thuốc có chứa aspirine (Aspegic, Algotropyl, Eftifar ) để hạ sốt cho bệnh nhân thủy đậu vì có nguy cơ bị hội chứng Reye gây tổn thương gan - não nghiêm trọng, có thể tử vong.

Để hạ nhiệt, chỉ nên dùng các thuốc loại Acetaminophen hay Paracetamol.

Cần đi khám, điều trị sớm trong vòng 24 giờ sau khi hồng ban xuất hiện để giúp bệnh mau lành, hạn chế tối đa nguy cơ xảy ra biến chứng. Việc dùng thuốc điều trị đặc hiệu cho từng trường hợp cụ thể phải do bác sĩ chuyên khoa nhi, nhiễm hay da liễu chỉ định.

Không nên tự ý dùng thuốc, nhất là các trường hợp có thể có biến chứng.

Tiêm ngừa thủy đậu: Nên tiêm ngừa hai lần

Không tiêm ngừa thủy đậu ở người đã từng bị thủy đậu, người bị dị ứng với một trong các thành phần vắc-xin, phụ nữ đang có thai, trẻ đang dùng Aspirine, người đang dùng các sản phẩm huyết học truyền máu, immunoglobulin) trong vòng năm tháng trước ngày định tiêm ngừa; người đang bị các bệnh ung thư, đang dùng thuốc ức chế miễn dịch; đang điều trị bằng corticoides lâu ngày (suyễn, viêm khớp...), bị suy giảm miễn dịch, nhiễm HIV/AIDS.

Vắc-xin thủy đậu hiện có giá trung bình 300.000 đồng/liều. Trẻ 12-18 tháng tuổi tiêm một lần duy nhất. Trẻ 19 tháng tuổi đến 12 tuổi chưa từng bị thủy đậu cũng tiêm một lần duy nhất. Trẻ trên 12 tuổi và người lớn chưa từng bị thủy đậu: tiêm hai lần cách nhau ba tháng.

Tránh mang thai trong vòng ba tháng đầu sau khi tiêm ngừa vì vắc-xin thủy đậu có thể ảnh hưởng không tốt đến thai nhi. Vắc-xin phòng thủy đậu bắt đầu có tác dụng phòng bệnh từ 2-5 ngày đầu sau khi tiêm, trong khi thời gian ủ bệnh thủy đậu phải mất 7-21 ngày, do đó nên đi tiêm phòng ngay sau khi vừa tiếp xúc với bệnh nhân.

Theo khuyến cáo mới nhất của ACIP - Ủy ban cố vấn về thực hiện chủng ngừa của Trung tâm Phòng ngừa và kiểm soát bệnh Hoa Kỳ : Trẻ dưới 13 tuổi nên được chủng ngừa hai liều, liều thứ nhất khi 12-15 tháng tuổi, liều thứ hai lúc 4-6 tuổi, trước khi đi học. Trẻ trên 13 tuổi và người lớn: tiêm hai liều, cách nhau ba tháng.

Sở dĩ phải tiêm ngừa hai lần do tác dụng của vắc-xin ngừa thủy đậu giảm dần theo thời gian, chỉ với một liều tiêm phòng duy nhất cho trẻ dưới 12 tuổi đã không đủ bảo vệ các cháu.

Nhiều người tưởng rằng để tránh thủy đậu lây lan, chỉ cần cách ly bệnh nhân 2-3 ngày cho đến khi hết mụn nước. Thực ra, người bị thủy đậu có thể truyền virus cho người khác trong vòng 10 ngày.


Trước khi phát bóng nước (nốt rạ) 2-4 ngày, bệnh đã có thể lây nhiễm cho người lành. Khả năng lây truyền này kéo dài 3-7 ngày sau khi mụn nước xuất hiện. 90% số người chưa miễn dịch với thủy đậu có thể mắc bệnh khi tiếp xúc với nguồn lây. Vì thế, bệnh nhân nhất thiết phải được cách ly 7-10 ngày để tránh lây lan.


Một số ngộ nhận khác về bệnh:

Thủy đậu chỉ lây qua đường không khí

Bệnh này lây lan qua 4 đường: Không khí, hít phải nước bọt do người bệnh hắt hơi, ho; tiếp xúc trực tiếp với dịch của mụn nước (nốt rạ) vỡ ra; tiếp xúc trực tiếp với các tổn thương của người bệnh và từ mẹ sang con qua nhau thai.

Chỉ có trẻ em mới bị thủy đậu

Thủy đậu do virus Varicella zoster gây ra. Phần lớn bệnh nhân là trẻ em 5-11 tuổi; nhưng bệnh cũng có thể xảy ra ở người lớn. Người lớn khi mắc thủy đậu thường nặng hơn so với trẻ nhỏ, sốt cao và kéo dài hơn, các nốt rạ nổi nhiều hơn. Người lớn có nhiều nguy cơ bị các biến chứng như viêm phổi (đặc biệt ở người hút thuốc lá và phụ nữ mang thai) và cũng Người có thể tử vong.

Nên cho trẻ mắc bệnh tắm nước lá, gốc rạ

Tắm nước lá, gốc rạ, bôi thuốc dân gian không rõ nguồn gốc... là những nguyên nhân dẫn đến nhiễm trùng da, dẫn đến các biến chứng nguy hiểm. Bệnh nhân cần được giữ vệ sinh, tránh ủ kín, theo dõi thường xuyên để phát hiện sớm những dấu hiệu nghi ngờ biến chứng như sốt cao, mụn nước ửng đỏ xung quanh hay có mủ...

Văcxin phòng thủy đậu có nhiều phản ứng phụ

Văcxin thủy đậu an toàn, dung nạp tốt và phản ứng phụ rất thấp, chủ yếu là sưng, đỏ chỗ tiêm, thường nhẹ và thoáng qua. Trẻ cũng có thể sốt nhẹ sau tiêm và đó là phản ứng bình thường. Tuy nhiên, không nên tiêm cho những người đang sốt cấp tính, tuyệt đối không dùng cho phụ nữ có thai hoặc dự định thụ thai trong 3 tháng tới.

Dấu hiệu nào để nhận biết trẻ bị bệnh tay  - chân - miệng, và làm sao để ngừa biến chứng nguy hiểm? (Một số bạn đọc hỏi)


- BS Trần Thị Việt (trưởng khoa nhiễm, BV Nhi Đồng 2): Triệu chứng của trẻ mắc bệnh tay - chân - miệng thường là sốt, nổi bóng nước hồng ban ở lòng bàn tay, chân, mông, đầu gối và có vết loét trong miệng. Bệnh này diễn biến bất thường và chia ra bốn giai đoạn: không biến chứng, biến chứng nhẹ, biến chứng nặng và biến chứng rất nặng. Một số trường hợp chỉ cần điều trị tại nhà. 


Tuy nhiên cũng có nhiều trường hợp biến chứng gây nguy hiểm đến tính mạng. Những biểu hiện của biến chứng nặng và rất nặng: giật mình, nôn ói, ngủ li bì… Những trường hợp đã bị biến chứng rất nặng mới đưa đến BV thì cấp cứu không hiệu quả, khả năng tử vong cao. Do đó, khi nhận thấy trẻ có những triệu chứng trên, phụ huynh nên đưa đến BV ngay để bác sĩ theo dõi, điều trị phù hợp.

Khi chăm sóc trẻ bị bệnh, phụ huynh nên cho trẻ ăn đầy đủ dưỡng chất và uống nhiều nước (canh, cháo, trái cây, nước đun sôi để nguội). Không cần phải kiêng gió, ánh sáng. Để giảm nguy cơ nhiễm trùng da, phụ huynh nên chăm sóc da cho trẻ cẩn thận: tắm nước ấm, lau nhẹ, tránh làm vỡ bóng nước, thay quần áo sạch hằng ngày, cắt móng tay cho trẻ để tránh tổn thương da do gãi ngứa. Đặc biệt không nên đắp lá cây gây nhiễm trùng da. 
Design by Hao Tran | Blogger Theme by Sức khỏe sinh sản -