Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh trầm cảm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh trầm cảm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 9 tháng 9, 2013

Tự kỷ là căn bệnh của thời đại mà nạn nhân chính là trẻ em. Quá trình điều trị bệnh ít tốn kém nhưng mất khá nhiều thời gian. Nếu được phát hiện, chẩn đoán và can thiệp sớm một cách bài bản, toàn diện, hợp lí và kiên trì thì trẻ có thể tiến bộ tốt, hòa nhập một cách tương đối trong môi trường gia đình, nhà trường và xã hội.
Hay gặp ở trẻ em
Tự kỷ hay còn được gọi là những rối loạn phát triển lan tỏa là một trong những rối loạn nặng, làm suy yếu chức năng và cản trở cuộc sống nhiều nhất. Trong 2 năm đầu đời, trẻ có thể phát triển, vận động tương đối bình thường, sau đó các khả năng đã có lại mất dần đi. Cha mẹ thường đưa con đi khám khi thấy con chậm nói hoặc đã biết nói nhưng gọi lại không trả lời.


Cần phát hiện sớm các dấu hiệu tự kỷ ở trẻ. Ảnh: TL
Nếu chú ý, cha mẹ sẽ nhận thấy những biểu hiện bất thường xuất hiện khá sớm từ khi trẻ mới 10 – 12 tháng tuổi. Trẻ tự thu mình, không quan tâm đến người khác, không thích chơi chung với trẻ cùng tuổi và chủ động tránh những đứa trẻ này. Không biết chơi các trò chơi bắt chước, những cố gắng để lôi cuốn sự chú ý của trẻ đều vô ích.

Bé không tỏ vẻ trìu mến khi được cưng chiều, ít khóc, bé rất ngoan, thậm chí quá ngoan. Khó khăn khi hiểu và sử dụng ngôn ngữ. Chơi khác thường với đồ chơi. Quá hay kém nhạy cảm với tiếng động, nhìn, nếm sờ hoặc… ngửi. Có thái độ thách thức như hung hăng, tự gây tổn thương hoặc rút lui trầm trọng…
Trẻ thờ ơ, ít đòi hỏi chăm sóc hoặc luôn bứt rứt, quấy khóc, khó ngủ, ít cười, ánh mắt đờ đẫn, không phát âm được khi âu yếm. Khi đến 2 – 3 tuổi, các biểu hiện của bệnh dần bộc lộ rõ. Nhìn chung tất cả trẻ em mắc bệnh tự kỷ đều khiếm khuyết về khả năng tương tác xã hội, khiếm khuyết về khả năng giao tiếp bằng lời (ngôn ngữ) hoặc không lời nói và rối loạn về các hành vi.
Có phải lỗi của mẹ?
Cho đến nay chưa có nghiên cứu nào tìm ra nguyên nhân gây bệnh tự kỷ, mặc dù thế giới không ngừng nghiên cứu về loại rối loạn này. Có những yếu tố góp phần trong rối loạn tự kỷ như di truyền hoặc một số tổn thương não. Ngoài ra, ngạt khi sinh, sang chấn do can thiệp sản khoa, sinh non, vàng da, khuyết tật tâm thần, động kinh, người mẹ khi mang thai nhiễm virut, nhiễm độc… cũng là những yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh này.
Nhận định tự kỷ là do lỗi của cha mẹ thiếu chăm sóc hoặc do phản ứng vaccin  tiêm chủng… là rất sai lầm, quan niệm này đã đẩy cha mẹ vào tâm trạng luôn dằn vặt mình, cộng với tình trạng bệnh của con đã khiến cha mẹ mắc bệnh trầm cảm. Tình trạng bệnh của cha mẹ lại tác động trở lại đứa con khiến bệnh trẻ càng nặng thêm.
Tuy nhiên, nếu tách trẻ ra khỏi hơi ấm của mẹ quá sớm sẽ khiến trẻ hụt hẫng, mất phương hướng, trẻ dần dần tự cô lập, nếu có sẵn những yếu tố tự kỷ thì bệnh sẽ mau nặng lên. Trẻ được bao bọc quá kỹ lưỡng trong điều kiện vật chất dư thừa, nhưng không được giao tiếp với thế giới bên ngoài, không được hoạt động, tương tác với trẻ khác, cũng khiến hội chứng tự kỷ thêm trầm trọng.

Có thể lý giải hiện tượng trẻ em nông thôn ít bị tự kỷ hơn trẻ em thành phố là bởi trẻ nông thôn có điều kiện giao tiếp với cộng đồng thuận lợi hơn, được vận động, vui chơi với những trẻ em khác thoải mái hơn, từ đó sẽ phát triển bình thường, hoặc bị tự kỷ nhẹ thì bệnh có thể hoàn toàn tự khỏi.
Cần được phát hiện sớm
Khi thấy trẻ có những biểu hiện bất thường như: Chậm nói, hoặc biết nói rồi ngừng hẳn, chỉ thích chơi một mình, không cười, không tiếp xúc bằng mắt với bố mẹ hay người đối diện, quá say mê một thứ đồ vật nào đó, có những hành vi lặp đi lặp lại, rất thích sắp xếp đồ vật theo thứ tự, ngăn nắp một cách kỳ lạ và có biểu hiện hung hăng khi thứ tự đó bị xáo trộn…

Phần lớn các bậc cha mẹ đã nghĩ đến khả năng con bị tự kỷ. Nhưng do mặc cảm, sĩ diện nên giấu bệnh của con, bất hợp tác với bác sĩ, hoặc khi biết con bị tự kỷ thì rơi vào tình trạng chán nản, suy sụp, buông xuôi… khiến bệnh của trẻ ngày càng nặng. Cuộc chiến với căn bệnh tự kỷ thường kéo dài và rất gian nan, việc phát hiện sớm là rất quan trọng, vì phát hiện càng sớm thì việc can thiệp, khắc phục sẽ có kết quả cao hơn, trẻ càng có nhiều cơ hội hòa nhập với cộng đồng, tự lập trong cuộc sống.

Trẻ từ 18 – 36 tháng tuổi nếu được phát hiện sớm và can thiệp điều trị bởi đội ngũ nhiều chuyên gia thì có khoảng 30% khả năng trẻ sẽ trở lại bình thường, có thể hòa nhập trở lại với cộng đồng. Quá độ tuổi này, việc can thiệp sẽ gặp khó khăn và mất nhiều thời gian hơn.

Một giờ học của trẻ tự kỷ ở TP. Hồ Chí Minh.Ảnh: Duy Khương
Có thể phòng ngừa?
Để tránh nguy cơ trẻ mắc bệnh tự kỷ, khi mang thai, các bà mẹ cần giữ gìn sức khỏe, kiêng rượu, thuốc lá để hạn chế nguy cơ nhiễm độc, đẻ non, đặc biệt tránh dùng nhiều mỹ phẩm (vì nhiều loại chứa chất thủy ngân – nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tự kỷ)… Sau khi trẻ ra đời, không nên tách trẻ khỏi mẹ quá sớm; Cha mẹ nên dành nhiều thời gian chăm sóc, trò chuyện, chơi đùa với trẻ để giúp trẻ phát triển năng lực, tránh để trẻ bị chấn động về não, hoặc sang chấn tâm lý.
Một thái độ ân cần, một ánh mắt cảm thông là liều thuốc giúp trẻ tự kỷ và cha mẹ đứng vững và tiếp tục bước trên con đường chông gai. Ngược lại, một lời nói hay một cử chỉ kỳ thị dù nhỏ, cũng đủ làm họ rơi vào tuyệt vọng. Cộng đồng xã hội hãy chung tay hành động vì trẻ tự kỷ, phá đi bức tường ngăn cách để các em được hòa nhập với xã hội. Chỉ như thế mới giúp những đứa trẻ vốn đã kém may mắn đỡ thiệt thòi hơn.
Mỗi năm Bệnh viện Nhi Trung ương tiếp nhận khoảng 6.000 trẻ bị nghi mắc bệnh tự kỷ đến khám và điều trị. Trên thực tế, số trẻ mắc tự kỷ rất lớn vì gia đình không biết, hoặc biết mà lơ là, nghĩ là không quan trọng nên không đưa trẻ đến các bệnh viện chuyên khoa để khám và điều trị. Hiện ở Việt Nam mới chỉ có một vài trung tâm từ thiện của các tổ chức phi chính phủ hoặc tư nhân điều trị cho trẻ tự kỷ.
Đề án để trẻ tự kỷ đến trường giai đoạn 2010-2015 của Bộ Giáo dục & Đào tạo khẳng định: Đến năm 2015 phải có 90% số trẻ tự kỷ đến trường. Tuy nhiên, thực tế đến nay, số trẻ tự kỷ đến trường vẫn còn nhiều rào cản, con số trẻ đến trường mới chỉ đạt khoảng 60-70%.

Chủ Nhật, 8 tháng 9, 2013

Tự kỉ là sự rối loạn phức tạp trong quá trình phát triển tự nhiên. Tuy nhiên không phải ai cũng hiểu đúng về trẻ bị tự kỉ.


1.Tự kỉ là một dạng của rối loạn cảm xúc và thần kinh

Tự kỉ ở trẻ em không phải do rối loạn thần kinh
Dựa vào những hành vi và giao tiếp của trẻ bị tự kỉ, ta có thể cho rằng đây là chứng bệnh của rối loạn tâm lý, nhưng thực ra tự kỉ là một rối loạn sinh học làm cản trở sự phát triển và tưởng thành của não.
Ông Micheal Alessandri, giám đốc điều hành của trung tâm tự kỉ thuộc trường đại học Miami có nói: “Đó là hành vi xã hội, giao tiếp và những thói quen lặp đi lặp lại, thu hẹp hạn chế tương tác với xung quanh”. Mặc dù hiện nay, người ta đã nhận ra tự kỉ là một trong những chứng bệnh rối loạn thần kinh nhưng cũng có thể coi là một rối loạn phức tạp bởi triệu chứng quá đa dạng.
2.Đang có đại dịch tự kỉ
Những hiểu lầm thông thường về trẻ bị tự kỉ 2
Tự kỉ ở trẻ không phải là đại dịch
“Đại dịch” hàm ý một sự bùng nổ khủng khiếp về số người mắc bệnh tự kỉ trong khoảng thời gian nhất định. Theo báo cáo của cơ quan kiểm soát và phòng bệnh dịch Hoa Kỳ thì cứ 150 trẻ sinh ra thì có một trẻ bị tự kỉ. Một số người cho rằng căn bệnh này đang lan rộng hơn và phổ biến hơn trở thành đại dịch.
Tuy nhiên theo đánh giá của Dr.Bob Marion giám đốc trung tấm đánh giá và tái hòa nhập cho trẻ thuộc trường cao đẳng Y Albert College of Medice ở New York có nói:”Căn bệnh này không phải đang lan rộng hơn mà người ta chỉ phát hiện được bệnh này nhiều hơn thôi”.
3.Có thể chữa bệnh tự kỉ
Những hiểu lầm thông thường về trẻ bị tự kỉ 3
Có nhiều phương pháp điều trị nhưng chưa có cách chữa khỏi tự kỉ
Một số cha mẹ cho rằng chỉ cần chế độ ăn đặc biệt, thuốc và một số can thiệp về hành vi có thể chữa khỏi bệnh cho trẻ bị tự kỉ. Nhưng đa phần sau khi thử chế độ can thiệp đó đều không thấy hiệu qủa. Thực ra có nhiều phương pháp điều trị tự kỉ nhưng chưa ai biết cách chữa khỏi bệnh tự kỉ.
Phân tích hành vi ứng dụng hay còn gọi là ABA, một hình thức can thiệp dành cho trẻ mới phát hiện ra, sử dụng các hành động lặp đi lặp lại để cải thiện chức năng giao lưu và thể chất cho trẻ. Theo Marion không hề có một phương cách chữa khỏi bệnh tự kỉ mà việc chữa bệnh còn phải phụ thuộc vào sự đánh giá của bác sĩ xem phương pháp điều trị đó có đem lại hiệu quả nhất định hay không.
4.Tự kỉ do cha mẹ lạnh nhạt và không yêu thương
Những hiểu lầm thông thường về trẻ bị tự kỉ 4
Nhiều nghiên cứu cho thấy tự kỉ ở trẻ em không phải do cha mẹ
Trong những năm 1940, một bác sĩ người Áo đã cho ra thuyết lết luận bệnh tự kỉ ở trẻ là do cha mẹ, đặc biệt người mẹ không yêu thương con mình khiến chúng thu mình lại và trở thành bệnh tự kỉ. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu khác đã bác bỏ lý thuyết này. Theo các chuyên gia y học bệnh tự kỉ của trẻ chẳng hề liên quan đến cách nuôi dưỡng trẻ và cũng không có chứng cứ nào để chứng minh rằng cha mẹ đã làm gì và không làm gì để con mình mắc chứng tự kỉ.
5.Người tự kỉ không thể tạo dựng quan hệ tốt
Những hiểu lầm thông thường về trẻ bị tự kỉ 5
Người tự kỉ có khả năng tạo dựng mối quan hệ xã hội
Suy cho cùng đây là việc vơ đũa cả nắm và cần phải xét từng trường hợp vì bệnh tử kỉ phổ biến vô cùng rộng. Và một số trẻ bị tự kỉ vẫn có thể có quan hệ xã hội nhưng thường không phải là những trẻ bị nặng.
6.Người tự kỉ là mối đe dọa với xã hội
Những hiểu lầm thông thường về trẻ bị tự kỉ 6
Người tự kỉ gây nguy hiểm cho xã hội là ý kiến sai lầm
Ý kiến này có thể làm tổn hại đến những người mắc bệnh tự kỉ đặc biệt là trẻ em. Thực tế có những tin tức người tự kỉ chức năng cao đã bị phát hiện trộm cắp hay giết người. Tuy nhiên nếu nhìn tổng thể  thì những người tự kỉ dính vào tội phạm rất nhỏ. Nếu người tự kỉ nào đó có hành vi phạm tội chỉ có thể do họ bị kích động quá mức, chứ không phải do hành vi và động cơ đen tối.
Trên đây là những hiểu lầm thường gặp về trẻ bị tự kỉ và những người bị tự kỉ nói chung. Hi vọng bài viết này sẽ giúp bạn có cách nhìn toàn diện nhất về chứng tự kỉ.
Chúc bạn luôn khỏe mạnh cùng khamchuabenh.info!
Design by Hao Tran | Blogger Theme by Sức khỏe sinh sản -