Loại bệnh lý này có thể gặp ở bất cứ lứa tuổi nào, rất dễ xảy ra ở trẻ dưới 5 tuổi và là nguyên nhân gây tử vong cao ở trẻ em.Mỗi năm thế giới có hơn 4 triệu trẻ dưới 5 tuổi chết do chứng này. Ở Việt Nam, nhiễm khuẩn cấp đường hô hấp chiếm 30-40% số bệnh nhi vào điều trị ở các bệnh viện; tỷ lệ tử vong lên đến 20-25% số trẻ mắc bệnh. Nhiễm khuẩn cấp đường hô hấp trên (mũi, xoang mũi, họng và thanh quản) Bệnh cảnh hay gặp nhất là cảm lạnh, viêm mũi, viêm họng, viêm hạch hạnh nhân (amiđan), bệnh bạch hầu. Ở nước ta, trẻ em thường mắc các bệnh này vào mùa đông xuân, lúc khí hậu lạnh và ẩm, mỗi năm có thể mắc vài lần. Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là nhiễm virus, vi khuẩn, có khi phối hợp cả hai. Nếu bệnh nhẹ, triệu chứng chủ yếu là chảy nước mũi trong, hắt hơi, ho nhẹ, khô hốc mũi, khó chịu trong họng. Trường hợp nặng hơn, ngoài các dấu hiệu trên, trẻ rất mệt mỏi, sốt 38-38,5 độ C, có khi sốt cao hơn và co giật, khó thở, bỏ bú hoặc bỏ ăn. Bệnh kéo dài khoảng vài ngày đến 2 tuần, sau đó các triệu chứng nhẹ dần và khỏi hẳn. Phụ huynh thường không chú ý đến những nguyên nhân gây bệnh nên thường nhầm là cảm cúm. Các trường hợp nặng và kéo dài có thể gây các biến chứng như viêm tai giữa (sốt cao không giảm, do tai đau nên quấy khóc, ngoẹo đầu sang một bên, sau đó tai chảy mủ), có thể nhiễm khuẩn lan xuống đường hô hấp dưới gây viêm phổi. Có những trường hợp bị viêm thanh quản cấp làm cho khoang thanh quản bị sưng phù, lượng không khí vào phổi giảm rõ rệt, xuất hiện tình trạng “thở khó khi hít vào”, ho và khản tiếng. Viêm họng do liên cầu khuẩn nhóm A không được điều trị kịp thời có thể gây thấp khớp cấp và thấp tim, phải điều trị lâu dài. Nhiễm khuẩn cấp đường hô hấp dưới (phế quản, phổi và phế nang) Nguy hiểm nhất là viêm phổi, vì đó là nguyên nhân gây tử vong cao cho trẻ và người cao tuổi. Trẻ 2-5 tuổi hay bị viêm phổi nhất. Bệnh thường phát sinh vào mùa đông-xuân, khi nhiệt độ thay đổi đột ngột. Nguyên nhân thường là vi khuẩn và virus, hiếm khi do nấm, mốc, động vật đơn bào. Có những trường hợp khởi đầu bị nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, không chữa trị kịp thời nên biến chứng lan vào phổi. Dấu hiệu thông thường của viêm phổi là sốt. Có trường hợp bắt đầu bằng cơn rét run, sau đó sốt mới xuất hiện, tiếp theo là tức ngực và ho, lúc đầu ho khan, về sau có đờm, ho làm tức ngực tăng thêm. Bệnh nhân khó thở, nhịp thở tăng nhanh, mạch nhanh, mệt mỏi, chán ăn. Các dấu hiệu viêm phổi ở người cao tuổi có khi không rõ rệt, sốt nhẹ hơn và đôi lúc có biểu hiện tâm thần như lú lẫn, chán ăn. Đối với trẻ nhỏ, sốt cao thường đột ngột (39-40 độ C), trẻ thở nhanh, ho khan, về sau mới có đờm, khó thở và nghe tiếng rít; mặt đỏ hoặc tím tái, có khi co giật, trướng bụng, nước tiểu ít và màu sẫm. Mỗi khi thấy trẻ dưới 1-2 tuổi có hiện tượng mệt mỏi, chán ăn thì phải chú ý ngay xem có sốt, ho, co giật không, giấc ngủ có bị lơ mơ, lồng ngực có co rút không, tiếng thở có khò khè không. Cần xem nhịp thở. Nếu nhịp thở trên 60 lần/phút với trẻ dưới 2 tháng tuổi, trên 50 lần/phút với trẻ 3-12 tháng tuổi, trên 40 lần/phút với trẻ 1-5 tuổi nghĩa là nhanh so với bình thường. Nếu thấy những dấu hiệu này, phải nghĩ đến viêm phổi cấp và đưa trẻ đến khám bác sĩ ngay để được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Việc sử dụng thuốc men, nhất là các kháng sinh, phải theo đúng chỉ định của thầy thuốc để tránh mọi nguy hiểm có thể xảy ra. Khi bị viêm phổi, ngoài thuốc do bác sĩ chỉ định, thì việc chăm sóc trẻ hết sức quan trọng. Phải cho trẻ nằm nghỉ tại giường, nơi thoáng khí nhưng không có gió lùa. Những ngày đầu cho ăn thức ăn lỏng và loãng, hợp khẩu vị, uống thêm nước hoa quả. Phải giữ hai lỗ mũi thông. Thường xuyên cứ 1-2 giờ lại lật người sang trái, sang phải một lần để thay đổi tư thế, phòng loét. Khi bệnh đã giảm vẫn phải tiếp tục cho trẻ nghỉ ngơi, cho ăn thêm bữa phụ, tăng các thức ăn giàu dinh dưỡng để bệnh chóng khỏi hơn. Cách phòng tránh nhiễm khuẩn cấp đường hô hấp Tích cực luyện tập và có chế độ dinh dưỡng hợp lý để tạo sức đề kháng với bệnh. Thường xuyên hoạt động ngoài trời, không nên để trẻ suốt ngày ở trong nhà thiếu ánh nắng. Mùa hè nên tắm rửa bằng nước lạnh để tạo khả năng thích ứng của cơ thể với sự thay đổi nhiệt độ. Mùa đông cần giữ ấm đầu, cổ, ngực và hai chân. Trong nhà trẻ, nếu phát hiện một cháu bị nhiễm khuẩn cấp đường hô hấp hoặc bệnh truyền nhiễm như sởi, ho gà... thì phải cách ly suốt thời gian có khả năng lây truyền. Người lớn không được hút thuốc lá tại nơi trẻ ngủ. Trong năm đầu sau khi sinh, trẻ phải được tiêm phòng một số bệnh hay lây truyền như sởi, ho gà, bạch hầu, uốn ván, bại liệt, lao. (Theo Sức Khỏe & Đời Sống) |
Hiển thị các bài đăng có nhãn cách chữa bênh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn cách chữa bênh. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2013
10:40
Unknown
Thứ Ba, 17 tháng 9, 2013
17:19
Unknown
Người ta thường nói đến bệnh loét dạ dày ở người lớn, tuy nhiên trẻ em cũng bị bệnh này. Loét dạ dày - tá tràng ở trẻ em có triệu chứng không giống như người lớn, vì vậy dễ bị chẩn đoán và điều trị nhầm. Có đến 50% trường hợp đến bệnh viện vì biến chứng của loét.
Những triệu chứng lâm sàng của loét dạ dày - tá tràng ở trẻ em như thế nào?
Đau bụng vùng trên rốn: Đau thất thường, không theo chu kỳ mùa và ngày (mùa tức là đau nhiều về mùa rét, ngày tức là lúc đói đau nhiều hơn lúc no). Đau ban đêm, sau khi ngủ một lúc, chừng 12 giờ đêm đến 1 giờ sáng, cơn đau xuất hiện làm mất ngủ, đau trước khi ăn hoặc sau khi ăn. Trẻ xanh xao, thiếu máu, giảm cân. Ở trẻ em không rõ ràng như người lớn, trẻ em ít khi đau âm ỉ, chịu đựng được, mà thường đau dữ dội, lăn lộn như giun lên ống mật. Nhiều bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị như giun chui ống mật hoặc đau bụng do giun.
Ợ hơi, ợ chua gặp ở người lớn, tuy không đặc hiệu cho bệnh nhân loét nhưng ít gặp ở trẻ em và cũng khó khai thác dấu hiệu này. Vì cho là không hoặc ít gặp, các dấu hiệu lâm sàng lại mơ hồ cho nên trẻ được đưa đến bệnh viện muộn, khi có biến chứng như chảy máu, hẹp và thủng dạ dày.
Làm thế nào để biết chắc chắn trẻ bị loét dạ dày?
Trẻ cần được khám chuyên khoa để điều trị sớm, đúng quy cách và kiên trì.
Bác sĩ dựa trên phim chụp dạ dày và nội soi dạ dày – tá tràng. Tuy chụp phim có giá trị rất lớn nhưng cũng khó đọc, không điển hình như ở người lớn, chỉ thấy tá tràng rúm ró không có dạng củ hành như bình thường. 1/3 trường hợp có hình ảnh loét trên phim Xquang, khi soi lại không có tổn thương. Do vậy, sau khi chụp phim việc soi dạ dày là cần thiết và bắt buộc để không còn nghi ngờ trong chẩn đoán.
Những điều lưu ý trong điều trị
Chế độ ăn uống ở trẻ bị bệnh dạ dày rất quan trọng, phải chia làm nhiều bữa (4-5 bữa 1 ngày), chú ý chế độ ăn uống giàu dinh dưỡng. Tuy vậy, chiều cao và cân nặng của trẻ bị bệnh dạ dày - tá tràng cũng rất ít khi đạt như một trẻ bình thường.
Nếu phát hiện sớm, điều trị ngay, 80% số loét khỏi hẳn. Nhưng nếu muộn tỷ lệ này giảm còn khoảng 50%.
Khi cần mổ, phải cắt 2/3 thể tích dạ dày. Sau mổ, chỉ còn 1/3 dạ dày, tức là dạ dày sẽ rất nhỏ. Sau đó sẽ giãn dần ra và cuối cùng cũng gần bằng dạ dày khi chưa cắt.
Sau mổ một số ít bị tái phát và biến chứng. Nếu đau bụng tương tự hoặc đau hơn trước khi mổ, cần tới nơi đã điều trị cho trẻ để kiểm tra lại xem có loét ở nơi mới hay không.
Loét dạ dày – tá tràng là một bệnh lành tính. Nguyên nhân sinh bệnh còn chưa khẳng định nhưng điều kiện thuận lợi là bệnh có tính chất gia đình, trẻ bị chấn thương về tinh thần (bố mẹ đánh đập, ruồng bỏ, lo lắng trong học hành). Khi loét lượng acid trong dạ dày tăng cao. Gần đây người ta còn tìm thấy loét do vi trùng. Nó đã được khẳng định ở người lớn và trẻ em. Điều trị bằng thuốc hay mổ cũng nhằm vào hạ độ acid, chống vi trùng để hết loét và chữa bệnh.
Triệu chứng không điển hình, hình ảnh phim khó khẳng định, cả gia đình và thầy thuốc ít nhạy bén nghĩ đến bệnh, trẻ điều trị muộn là điều tất yếu. Một trẻ, nhất là trẻ trai, đau kéo dài trên 2 tháng vùng trên rốn, cần đưa trẻ tới khám để chụp, soi dạ dày, mới hy vọng điều trị tốt được.
Loét dạ dày ở trẻ em có các biến chứng gì?
50% số trẻ bị loét đến bệnh viện vì các biến chứng:
Chảy máu: Khi loét sâu vào lớp cơ của ruột hoặc hết cả lớp thành ruột, thủng vào các mạch máu, gây ra chảy máu. Nôn ra máu cục lẫn thức ăn, hoặc chảy vào trong lòng ruột: đại tiện ra phân đen.
Hẹp môn vị: Tức là hẹp phần cuối của dạ dày. Loét xơ chai làm rúm đoạn đầu của ruột non (tá tràng) làm hẹp gần hoàn toàn hoặc hoàn toàn trong ruột.
Trẻ ăn vào, thức ăn ứ đọng lại ở dạ dày nhuyễn ra, lên men... rồi nôn ra thức ăn có mùi chua, lợn cợn, nổi bọt. Trước khi nôn, trẻ đau bụng nổi cuộn ở trên rốn, sau khi nôn xong trẻ dễ chịu hẳn, có khi khó nôn, phải kích thích miệng, họng để nôn ra. Tiếp đó là tình trạng da nhăn nheo, mắt trũng, đại, tiểu tiện ít do mất nước và coi như không được ăn uống gì.
Thủng dạ dày: Nếu ổ loét làm thủng thành ruột sẽ gây tràn hơi, dịch có trong dạ dày vào ổ bụng. Trẻ đau đột ngột, vật vã. Đau không dám thở. Bụng cứng như sờ vào tấm gỗ, hoặc miếng các-tông.
Dù là loại biến chứng nào cũng phải đưa tới bệnh viện ngay để cứu chữa kịp thời. Nếu muộn sẽ đe dọa tính mạng của trẻ. Hẹp môn vị và thủng dạ dày bắt buộc phải điều trị bằng phẫu thuật, chảy máu là ranh giới giữa điều trị nội khoa và ngoại khoa.
|
Thứ Hai, 16 tháng 9, 2013
19:54
Unknown
Trong các bệnh về hô hấp ở trẻ em thì khó thở thanh quản là một trong những bệnh được đặt trong tình trạng cấp cứu.Hiện nay tình hình trẻ nhập viện vì các bệnh ở đường hô hấp đang tăng lên, nhiều trường hợp đến bệnh viện trong tình trạng bệnh rất nặng gây khó khăn cho công tác điều trị. Nhận biết bệnh và phòng bệnh tốt cho trẻ là điều cần thiết đối với các bậc cha mẹ. Bài viết sau xin đề cập đến khó thở thanh quản ở trẻ em. Nhận biết dấu hiệu khó thở Hầu hết trẻ bị khó thở thanh quản đều có những dấu hiệu như hít thở khó, thở chậm, nghe có tiếng rít thanh quản khi thở, xuất hiện các cơn co kéo hô hấp nhất là tình trạng lõm ức và rút lõm lồng ngực. Bên cạnh đó, trẻ còn có những triệu chứng khác như khàn tiếng hay mất tiếng khi nói, ho, khóc. Đầu trẻ thường bị gật gù khi thở và hay bị ngửa ra sau trong thì hít vào. Nếu quan sát thì sẽ thấy sụn thanh quản nhô lên khi hít vào, mặt trẻ bị nhăn lại, hai cánh mũi nở rộng. Để chẩn đoán mức độ khó thở thanh quản của trẻ, người ta chia ra 3 mức độ nặng, nhẹ khác nhau, đây là yêu cầu rất cần thiết để có thể đưa ra những xử trí đúng đắn nhất. Mức độ 1: Trẻ xuất hiện khàn và rè tiếng khi khóc, khi nói, nhưng tiếng ho có thể vẫn trong hoặc hơi rè. Biểu hiện khó thở chưa điển hình, tiếng rít thanh quản nhẹ hoặc chưa rõ, cơn co kéo hô hấp ít. Tình trạng toàn thân chưa ảnh hưởng, trẻ vẫn còn chơi, chưa quấy khóc nhiều. Mức độ 2: Trẻ bị mất tiếng, nói không rõ từ, tiếng ho trở nên ông ổng. Lúc này triệu chứng khó thở thanh quản rất điển hình, tiếng rít thanh quản rõ, cơn co kéo hô hấp mạnh. Trẻ xuất hiện trạng thái kích thích, vật vã, hốt hoảng, lo sợ. Mức độ 3: Trẻ bị mất tiếng hoàn toàn, khóc hoặc nói không thành tiếng, nghe phều phào. Ngay cả khi ho cũng không thành tiếng hoặc muốn ho mà không ho được. Biểu hiện khó thở trở nên dữ dội, có triệu chứng thiếu ôxy nặng nề, lúc này trẻ có thể bị tím tái, rối loạn nhịp thở. Toàn thân trẻ bị ảnh hưởng thần kinh (hôn mê, lờ đờ hay vật vã...), tim mạch, da tái vã mồ hôi... Xác định nguyên nhân khó thở Trong trường hợp trẻ bị khó thở thanh quản cấp tính thường là do những nguyên nhân như: dị vật đường thở, đây là do quá trình ăn, ngậm thức ăn hoặc đồ vật nào đó bị rơi vào thanh quản. Trường hợp này rất hay gặp, nhất là khi trẻ vừa ăn vừa chơi không tập trung. Viêm thanh quản cấp là một nguyên nhân quan trọng gây ra tình trạng này, bệnh xuất hiện có thể do vi khuẩn (H.influenzae, streptocoque, staphylocoque) hoặc do virut (hay gặp nhất là virut cúm, sau đó là virut nhóm myxovirut). Những trẻ bị còi xương và nhiễm khuẩn nặng ở họng, đau không nuốt, nói được cũng hay mắc phải tình trạng khó thở thanh quản cấp tính. Bên cạnh đó bệnh bạch hầu thanh quản và viêm thanh quản do sởi cũng là những yếu tố quan trọng khiến trẻ rơi vào tình trạng cấp cứu này. Các trường hợp khó thở mạn tính có thể do mềm sụn thanh quản, dị dạng sụn thanh quản (trong những trường hợp này trẻ sẽ có tiếng thở rít thanh quản bẩm sinh) hoặc do hẹp thanh quản mạn tính (do hậu quả của chấn thương hoặc hẹp thanh quản do u máu, dị dạng bẩm sinh...). Khó thở mạn tính còn do papillone thanh quản, đó là loại u nhú, lành tính ở thanh quản, u phát triển nhanh, tái phát gây khó thở thanh quản từ từ. Để xác định chính xác cần phải soi thanh quản. Xử trí khi bị khó thở Tất cả những trường hợp khó thở thanh quản đều cần được theo dõi chặt chẽ và xử trí bệnh kịp thời, đặc biệt là tình trạng cấp tính. Nếu trẻ có nguyên nhân bị dị vật đường thở phải nhanh chóng lấy dị vật khỏi thanh quản. Nhiều trường hợp nặng phải sử dụng mở nội khí quản, thở ôxy. Tùy theo từng nguyên nhân gây bệnh và mức độ bệnh, các bác sĩ sẽ chỉ định sử dụng các loại thuốc khác nhau. Khó thở thanh quản là bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra trong đó có nhiều nguyên nhân có thể dự phòng được. Các bậc cha mẹ không nên để trẻ ngậm đồ vật dễ gây hóc, mặt khác còn gây nhiễm khuẩn, giun sán. Nên vệ sinh sạch sẽ cho bản thân trẻ và người chăm sóc trẻ, nhất là vệ sinh trước khi cho trẻ ăn và sau khi đi vệ sinh. Cần tiêm phòng đầy đủ cho trẻ theo lịch tiêm chủng. Mang lại cho trẻ một không gian sống thoáng, sạch. Nếu thấy có những dấu hiệu bất thường ở đường hô hấp nên cho trẻ đi khám ở các chuyên khoa hô hấp để phát hiện bệnh và điều trị sớm. |
Đăng ký:
Bài đăng
(
Atom
)
.jpg)

