Thứ Bảy, 21 tháng 9, 2013


Trẻ mắc bệnh thủy đậu, không được dùng thuốc Aspirine hoặc thuốc có chứa Aspirine. Phụ nữ có thai hoặc sắp có thai hãy cẩn trọng với  vắc-xin ngừa thủy đậu.


Bệnh thủy đậu đang lây lan nhanh tại nhiều địa phương. Riêng tại Bệnh viện Nhi Đồng 1, Nhi Đồng 2. Trong hai tháng đầu năm 2007, số trẻ mắc bệnh thủy đậu nhập viện tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ năm 2006.

Các bác sĩ còn cảnh báo: có thể bệnh thủy đậu sẽ tăng cao nhất ở tháng ba và kéo dài đến tháng năm. Việc phòng bệnh như thế nào và cần tránh những sai lầm gì?


Bác sĩ Lê Đức Thọ (Bệnh viện Hoàn Mỹ) trong bài trả trả lời trên báo Tuổi Trẻ, số ra ngày 19/3 đã có một số điều lưu ý các bậc phụ huynh trong việc chăm sóc cho trẻ mắc bệnh thủy đậu.

Không được uống thuốc Aspirine hoặc có chứa Aspirine

Đó là không gãi, nặn các nốt đậu vì sẽ gây bội nhiễm vi trùng; cắt ngắn móng tay, thoa các nốt đậu bằng dung dịch xanh Methylen. Có thể tắm bằng các dung dịch làm dịu cơn ngứa (Calamine) với nước ấm và dùng thuốc chống ngứa.

Ở một số nơi vẫn còn thói quen dùng gốc rạ để nấu nước tắm cho trẻ mắc bệnh thủy đậu, BS Lê Đức Thọ khuyến cáo, không dùng gốc rạ nấu nước tắm. Việc làm này hoàn toàn không hiệu quả mà còn có thể gây biến chứng nhiễm trùng.

Tuyệt đối không dùng Aspirine hay các thuốc có chứa aspirine (Aspegic, Algotropyl, Eftifar ) để hạ sốt cho bệnh nhân thủy đậu vì có nguy cơ bị hội chứng Reye gây tổn thương gan - não nghiêm trọng, có thể tử vong.

Để hạ nhiệt, chỉ nên dùng các thuốc loại Acetaminophen hay Paracetamol.

Cần đi khám, điều trị sớm trong vòng 24 giờ sau khi hồng ban xuất hiện để giúp bệnh mau lành, hạn chế tối đa nguy cơ xảy ra biến chứng. Việc dùng thuốc điều trị đặc hiệu cho từng trường hợp cụ thể phải do bác sĩ chuyên khoa nhi, nhiễm hay da liễu chỉ định.

Không nên tự ý dùng thuốc, nhất là các trường hợp có thể có biến chứng.

Tiêm ngừa thủy đậu: Nên tiêm ngừa hai lần

Không tiêm ngừa thủy đậu ở người đã từng bị thủy đậu, người bị dị ứng với một trong các thành phần vắc-xin, phụ nữ đang có thai, trẻ đang dùng Aspirine, người đang dùng các sản phẩm huyết học truyền máu, immunoglobulin) trong vòng năm tháng trước ngày định tiêm ngừa; người đang bị các bệnh ung thư, đang dùng thuốc ức chế miễn dịch; đang điều trị bằng corticoides lâu ngày (suyễn, viêm khớp...), bị suy giảm miễn dịch, nhiễm HIV/AIDS.

Vắc-xin thủy đậu hiện có giá trung bình 300.000 đồng/liều. Trẻ 12-18 tháng tuổi tiêm một lần duy nhất. Trẻ 19 tháng tuổi đến 12 tuổi chưa từng bị thủy đậu cũng tiêm một lần duy nhất. Trẻ trên 12 tuổi và người lớn chưa từng bị thủy đậu: tiêm hai lần cách nhau ba tháng.

Tránh mang thai trong vòng ba tháng đầu sau khi tiêm ngừa vì vắc-xin thủy đậu có thể ảnh hưởng không tốt đến thai nhi. Vắc-xin phòng thủy đậu bắt đầu có tác dụng phòng bệnh từ 2-5 ngày đầu sau khi tiêm, trong khi thời gian ủ bệnh thủy đậu phải mất 7-21 ngày, do đó nên đi tiêm phòng ngay sau khi vừa tiếp xúc với bệnh nhân.

Theo khuyến cáo mới nhất của ACIP - Ủy ban cố vấn về thực hiện chủng ngừa của Trung tâm Phòng ngừa và kiểm soát bệnh Hoa Kỳ : Trẻ dưới 13 tuổi nên được chủng ngừa hai liều, liều thứ nhất khi 12-15 tháng tuổi, liều thứ hai lúc 4-6 tuổi, trước khi đi học. Trẻ trên 13 tuổi và người lớn: tiêm hai liều, cách nhau ba tháng.

Sở dĩ phải tiêm ngừa hai lần do tác dụng của vắc-xin ngừa thủy đậu giảm dần theo thời gian, chỉ với một liều tiêm phòng duy nhất cho trẻ dưới 12 tuổi đã không đủ bảo vệ các cháu.

Nhiều người tưởng rằng để tránh thủy đậu lây lan, chỉ cần cách ly bệnh nhân 2-3 ngày cho đến khi hết mụn nước. Thực ra, người bị thủy đậu có thể truyền virus cho người khác trong vòng 10 ngày.


Trước khi phát bóng nước (nốt rạ) 2-4 ngày, bệnh đã có thể lây nhiễm cho người lành. Khả năng lây truyền này kéo dài 3-7 ngày sau khi mụn nước xuất hiện. 90% số người chưa miễn dịch với thủy đậu có thể mắc bệnh khi tiếp xúc với nguồn lây. Vì thế, bệnh nhân nhất thiết phải được cách ly 7-10 ngày để tránh lây lan.


Một số ngộ nhận khác về bệnh:

Thủy đậu chỉ lây qua đường không khí

Bệnh này lây lan qua 4 đường: Không khí, hít phải nước bọt do người bệnh hắt hơi, ho; tiếp xúc trực tiếp với dịch của mụn nước (nốt rạ) vỡ ra; tiếp xúc trực tiếp với các tổn thương của người bệnh và từ mẹ sang con qua nhau thai.

Chỉ có trẻ em mới bị thủy đậu

Thủy đậu do virus Varicella zoster gây ra. Phần lớn bệnh nhân là trẻ em 5-11 tuổi; nhưng bệnh cũng có thể xảy ra ở người lớn. Người lớn khi mắc thủy đậu thường nặng hơn so với trẻ nhỏ, sốt cao và kéo dài hơn, các nốt rạ nổi nhiều hơn. Người lớn có nhiều nguy cơ bị các biến chứng như viêm phổi (đặc biệt ở người hút thuốc lá và phụ nữ mang thai) và cũng Người có thể tử vong.

Nên cho trẻ mắc bệnh tắm nước lá, gốc rạ

Tắm nước lá, gốc rạ, bôi thuốc dân gian không rõ nguồn gốc... là những nguyên nhân dẫn đến nhiễm trùng da, dẫn đến các biến chứng nguy hiểm. Bệnh nhân cần được giữ vệ sinh, tránh ủ kín, theo dõi thường xuyên để phát hiện sớm những dấu hiệu nghi ngờ biến chứng như sốt cao, mụn nước ửng đỏ xung quanh hay có mủ...

Văcxin phòng thủy đậu có nhiều phản ứng phụ

Văcxin thủy đậu an toàn, dung nạp tốt và phản ứng phụ rất thấp, chủ yếu là sưng, đỏ chỗ tiêm, thường nhẹ và thoáng qua. Trẻ cũng có thể sốt nhẹ sau tiêm và đó là phản ứng bình thường. Tuy nhiên, không nên tiêm cho những người đang sốt cấp tính, tuyệt đối không dùng cho phụ nữ có thai hoặc dự định thụ thai trong 3 tháng tới.

Dấu hiệu nào để nhận biết trẻ bị bệnh tay  - chân - miệng, và làm sao để ngừa biến chứng nguy hiểm? (Một số bạn đọc hỏi)


- BS Trần Thị Việt (trưởng khoa nhiễm, BV Nhi Đồng 2): Triệu chứng của trẻ mắc bệnh tay - chân - miệng thường là sốt, nổi bóng nước hồng ban ở lòng bàn tay, chân, mông, đầu gối và có vết loét trong miệng. Bệnh này diễn biến bất thường và chia ra bốn giai đoạn: không biến chứng, biến chứng nhẹ, biến chứng nặng và biến chứng rất nặng. Một số trường hợp chỉ cần điều trị tại nhà. 


Tuy nhiên cũng có nhiều trường hợp biến chứng gây nguy hiểm đến tính mạng. Những biểu hiện của biến chứng nặng và rất nặng: giật mình, nôn ói, ngủ li bì… Những trường hợp đã bị biến chứng rất nặng mới đưa đến BV thì cấp cứu không hiệu quả, khả năng tử vong cao. Do đó, khi nhận thấy trẻ có những triệu chứng trên, phụ huynh nên đưa đến BV ngay để bác sĩ theo dõi, điều trị phù hợp.

Khi chăm sóc trẻ bị bệnh, phụ huynh nên cho trẻ ăn đầy đủ dưỡng chất và uống nhiều nước (canh, cháo, trái cây, nước đun sôi để nguội). Không cần phải kiêng gió, ánh sáng. Để giảm nguy cơ nhiễm trùng da, phụ huynh nên chăm sóc da cho trẻ cẩn thận: tắm nước ấm, lau nhẹ, tránh làm vỡ bóng nước, thay quần áo sạch hằng ngày, cắt móng tay cho trẻ để tránh tổn thương da do gãi ngứa. Đặc biệt không nên đắp lá cây gây nhiễm trùng da. 

Trong hai tháng vừa qua, TP HCM đã có 3 ca tử vong vì hội chứng tay chân miệng, do diễn biến bệnh thường xảy ra quá nhanh. 


Ca tử vong gần nhất xảy ra vào ngày 21/6. Cháu Nguyễn Duy Phi Trường nhập viện với biểu hiện sốc nặng, suy hô hấp kèm sốt cao, chân tay nổi mẩn đỏ. Bác sĩ Trần Thị Việt, Trưởng khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi đồng 2, TP HCM cho biết: "Diễn biến của bệnh quá nhanh, chúng tôi đã nỗ lực can thiệp cháu vẫn không qua khỏi sau 8 giờ cấp cứu".  


 
 Một biểu hiện của hội chứng tay chân miệng. 

Chỉ 6 tháng đầu năm, khoa Nhiễm bệnh viện Nhi Đồng 2 đã nhận trên 300 ca bệnh tay chân miệng, trong khi cả năm 2006 chỉ có khoảng 500 ca. Đến hết ngày 25/6, tại đây có 20 ca đang lưu trú, trong đó có 2 tình trạng nguy kịch. Đặc biệt trường hợp cháu bé 20 tháng tuổi nhà ở quận 10 nhập viện ngày 24/6 với các triệu chứng miệng loét, hai gót và bàn chân nổi nhiều bỏng nước, mẩn đỏ. Hiện bé vẫn ở trong tình trạng có nhiều diễn biến xấu như thường xuyên giật mình, mạch nhanh. 

Không có nhiều ca nguy cấp, nhưng trung bình mỗi ngày, bệnh viện Nhi Đồng 1 cũng có từ 10 đến 15 ca nhập viện. Bác sĩ chuyên khoa 2 Nguyễn Thị Kim Thoa cho biết, bệnh xảy ra quanh năm, nhưng dịch tập trung từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 11. 

Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng khoa nhiễm Bệnh viện Nhi đồng 1, TP HCM, cho biết, hội chứng tay chân miệng do nhóm virus đường ruột gây nên. Gần đây ngoài virus Coxsakie A16 lành tính khiến bệnh tự khỏi sau vài ngày, các nhà nghiên cứu mới phát hiện ra virus Entero 71 và một số tuýp virus khác có thể gây biến chứng ở não và tim. 

Bệnh thường rơi vào trẻ dưới 3 tuổi, lây lan nhanh qua đường tiêu hóa, qua tiếp xúc trực tiếp với nước mũi, miệng, nước bọt, dịch của mụn rộp hoặc phân của người nhiễm, qua nắm tay, tiếp xúc với các vật dụng cá nhân của trẻ nhiễm bệnh như trong bình sữa, núm vú nhựa, đồ chơi và thực phẩm. Trong tuần lễ đầu tiên bệnh rất dễ lây cho người khác. 

Hết sức lưu ý nếu trẻ nổi bóng nước

Trẻ mắc bệnh thường có dấu hiệu khó ngủ, quấy khóc liên tục, giật mình lúc đang thức hay lúc bắt đầu ngủ. Trẻ có thể biểu hiện hoảng hốt, nói lảm nhảm, chới với, run tay chân, co giật, sốt rất cao, nôn ói nhiều, da nổi bông. Một số trường trường hợp trẻ có mạch nhanh nhưng không sốt cao, yếu tay chân, méo miệng. 

Các bác sĩ khuyến cáo, nếu thấy trẻ có các dấu hiệu như: sốt nhẹ, ói, tiêu chảy ít kèm theo nổi bong bóng nước trong lòng bàn tay, bàn chân, ở đầu gối, mông và trong miệng lập tức đưa trẻ đến bệnh viện để được điều trị kịp thời. 

Theo Trung tâm Y tế dự phòng thành phố, do chưa có thuốc phòng ngừa điều trị, nên giữ gìn vệ sinh vẫn là biện pháp chính giúp ngăn bệnh bùng phát. Trẻ cần được rửa tay, cắt móng tay thường xuyên. Phụ huynh cần làm sạch các dụng cụ trẻ tiếp xúc bằng xà phòng, thậm chí phải khử trùng bằng dung dịch chứa clo như chloramine. 

Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2013

Chứng ho lâu ngày là một bệnh nhiễm trùng đường hô hấp do vi khuẩn gây ho lâu ngày Bordetella gây ra. Chứng bệnh này được miêu tả với các đặc trưng ho nhiều, dẫn đến ho khúc khắc khi người bệnh hít thở. 


Tại Mỹ, căn bệnh này giết 5.000-10.000 người mỗi năm. Hiện nay vaccine ngừa ho lâu ngày đã giúp giảm số tử vong vì căn bệnh này xuống 30%. Mặc dù ho lâu ngày có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng đối tượng nó thường tấn công là trẻ không được chủng ngừa và trẻ sơ sinh dưới 1 tuổi. Theo thống kê, khoảng 40% trong số các ca nhiễm trùng gây ho lâu ngày xảy ra ở trẻ dưới 1 tuổi, 15% xảy ra ở trẻ trên 15 tuổi. Một nửa trong số các ca tử vong do ho lâu ngày nằm trong nhóm trẻ sơ sinh dưới 1 tuổi, và các biến chứng nghiêm trọng cũng thường xảy ra ở nhóm này. Trong những năm qua, bệnh ho lâu ngày cũng đang tăng lên ở nhóm thanh thiếu niên và người lớn. Việc chủng ngừa sớm có thể ngăn được bệnh này. Dấu hiệu và triệu chứng Các triệu chứng đầu tiên của chứng ho lâu ngày thường giống với bệnh cảm lạnh thông thường, bao gồm: - Chảy nước mũi - Hắt hơi - Ho nhẹ - Sốt nhẹ Sau khoảng 1-2 tuần, triệu chứng ho khan, rát chuyển thành ho từng đợt, mỗi đợt có thể kéo dài hơn 1 phút, có thể khiến cho trẻ trở nên đỏ hoặc da có màu như xuất huyết. Cuối mỗi cơn ho, trẻ có thể phát ra âm thanh ho khúc khắc khi thở hoặc có thể nôn mửa. Giữa các cơn ho, trẻ thường cảm thấy dễ chịu. Các con đường lây lan của bệnh Chứng ho lâu ngày có nguy cơ lây lan cao. Vi khuẩn lây từ người này sang người khác qua chất dịch từ mũi hay miệng của người nhiễm bệnh khi người bệnh ho, hắt hơi hay cười to. Những người khác sau đó có thể bị nhiễm bệnh do hít phải các chất dịch này hoặc khi các chất này bám vào tay họ và họ vô tình chạm tay vào mũi hay miệng mình. Người nhiễm bệnh thường lây bệnh ở giai đoạn đầu của bệnh đến khoảng 2 tuần sau khi bắt đầu bị ho. Thời gian ủ bệnh Thời gian ủ bệnh thường từ 7-10 ngày, cũng có thể kéo dài đến 21 ngày. Thời gian kéo dài bệnh Ho lâu ngày có thể gây ra nhiều triệu chứng kéo dài. Triệu chứng đầu tiên là trẻ thường bị cảm lạnh từ 1-2 tuần. Sau đó là ho từ 2-4 tuần, đôi khi lâu hơn. Giai đoạn cuối bao gồm nhiều tuần để hồi phục từ từ. Trong một số trường hợp, trẻ có thể phải mất đến nhiều tháng mới hồi phục hẳn. Ngăn ngừa bệnh Chứng ho lâu ngày có thể được ngăn ngừa bằng cách tiêm vaccine, với 5 liều tiêm dành cho trẻ cho đến khi trẻ lên 6 tuổi. Các chuyên gia tin rằng có đến 80% những thành viên trong gia đình không được tiêm ngừa mắc bệnh ho lâu ngày nếu họ sống chung nhà với người mắc bệnh này. Vì lý do này mà bất cứ người nào có tiếp xúc gần với bệnh nhân ho lâu ngày cũng nên dùng kháng sinh để ngừa bệnh lây lan. Riêng trẻ nhỏ không nhận đủ 5 liều vaccine có thể yêu cầu một liều tăng cường nếu trong nhà có người bị bệnh. Tuổi Trẻ 

Viêm tiểu phế quản là bệnh rất phổ biến ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Trong trường hợp nghiêm trọng, trẻ có thể phải nhập viện và cần sự hỗ trợ của máy thở và thuốc kháng virus.

Nguyên nhân gây bệnh? Thủ phạm gây viêm tiểu phế quản là virus hợp bào hô hấp (RSV), thường gieo bệnh cho trẻ dưới 2 tuổi vào mùa đông và đầu xuân. Ở người già, bệnh có biểu hiện như chứng cảm lạnh thường. Triệu chứng điển hình của viêm tiểu phế quản ở trẻ gồm: - Ho - Khò khè - Khó thở - Ra nhiều mủ nhầy - Ăn uống kém Điều trị viêm tiểu phế quản bằng cách nào? Thuốc kháng sinh không có tác dụng trong trường hợp này, vì viêm tiểu phế quản do virus gây nên. Một loại thuốc kháng virus có tên là ribavirin có thể giúp trị bệnh, song dược liệu này không phổ biến vì có nguy cơ gây phản ứng phụ và thiếu tính thực tế trong sử dụng. Do đó, cách đối phó tốt nhất là hỗ trợ và dựa vào mức độ nghiêm trọng của bệnh. Phần lớn trẻ nhỏ viêm tiểu phế quản RSV nhẹ thường bị ho và khò khè một chút, song nhìn chung vẫn ăn uống tốt và không cần sự hỗ trợ của máy thở hay viên thuốc nào. Trong một vài ngày, bệnh sẽ tự khỏi. Trong trường hợp nghiêm trọng, trẻ sẽ thấy khó chịu vì triệu chứng thở khò khè và ra nhiều dịch nhầy, ngăn cản không khí tới các phế nang của phổi. Lúc này, trẻ cần thêm oxy, hoặc thậm chí phải dùng đến salbutamol - dược liệu làm giãn cơ phổi dùng trong bệnh hen suyễn. Một khâu quan trọng trong điều trị viêm tiểu phế quản là hút hết dịch nhầy, và việc này cần phải tới bệnh viện. Có phải trẻ nào cũng dễ mắc bệnh? Trẻ sơ sinh và những em gặp sự cố về hô hấp hoặc tim mạn tính có nguy cơ bị viêm tiểu phế quản nặng. Đã có văcxin đặc biệt dành riêng cho trẻ có nguy cơ cao. Hãy tham vấn bác sĩ về loại văcxin này. Có phải viêm tiểu phế quản sẽ phát triển thành hen suyễn? Một số người hiểu nhầm rằng viêm tiểu phế quản chắc chắn sẽ trở thành hen suyễn, nguyên nhân có thể do chúng có triệu chứng giống nhau. Cần biết rằng hen suyễn được định nghĩa là tình trạng tái diễn các cơn khò khè, ho và khó thở ở những trẻ không bị mắc bệnh phổi nào khác. Một số chuyên gia cho rằng những trẻ có di truyền dị ứng hoặc hen suyễn rất dễ bị nhiễm khuẩn RSV, trong khi số lại nói RVS có thể kích thích phát triển bệnh hen suyễn. Dù ở trường hợp nào, hiện tượng tái diễn bệnh là yếu tố quyết định. Nghĩa là nếu trẻ có biểu hiện tái phát triệu chứng nhiều lần thì đó có thể bệnh hen suyễn, còn nếu không tái phát thì đó là viêm tiểu phế quản. Vnexpress
 

  

Loại bệnh lý này có thể gặp ở bất cứ lứa tuổi nào, rất dễ xảy ra ở trẻ dưới 5 tuổi và là nguyên nhân gây tử vong cao ở trẻ em. 

Mỗi năm thế giới có hơn 4 triệu trẻ dưới 5 tuổi chết do chứng này. Ở Việt Nam, nhiễm khuẩn cấp đường hô hấp chiếm 30-40% số bệnh nhi vào điều trị ở các bệnh viện; tỷ lệ tử vong lên đến 20-25% số trẻ mắc bệnh. Nhiễm khuẩn cấp đường hô hấp trên (mũi, xoang mũi, họng và thanh quản) Bệnh cảnh hay gặp nhất là cảm lạnh, viêm mũi, viêm họng, viêm hạch hạnh nhân (amiđan), bệnh bạch hầu


. Ở nước ta, trẻ em thường mắc các bệnh này vào mùa đông xuân, lúc khí hậu lạnh và ẩm, mỗi năm có thể mắc vài lần. Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là nhiễm virus, vi khuẩn, có khi phối hợp cả hai. Nếu bệnh nhẹ, triệu chứng chủ yếu là chảy nước mũi trong, hắt hơi, ho nhẹ, khô hốc mũi, khó chịu trong họng. Trường hợp nặng hơn, ngoài các dấu hiệu trên, trẻ rất mệt mỏi, sốt 38-38,5 độ C, có khi sốt cao hơn và co giật, khó thở, bỏ bú hoặc bỏ ăn. Bệnh kéo dài khoảng vài ngày đến 2 tuần, sau đó các triệu chứng nhẹ dần và khỏi hẳn. Phụ huynh thường không chú ý đến những nguyên nhân gây bệnh nên thường nhầm là cảm cúm. Các trường hợp nặng và kéo dài có thể gây các biến chứng như viêm tai giữa (sốt cao không giảm, do tai đau nên quấy khóc, ngoẹo đầu sang một bên, sau đó tai chảy mủ), có thể nhiễm khuẩn lan xuống đường hô hấp dưới gây viêm phổi. Có những trường hợp bị viêm thanh quản cấp làm cho khoang thanh quản bị sưng phù, lượng không khí vào phổi giảm rõ rệt, xuất hiện tình trạng “thở khó khi hít vào”, ho và khản tiếng. Viêm họng do liên cầu khuẩn nhóm A không được điều trị kịp thời có thể gây thấp khớp cấp và thấp tim, phải điều trị lâu dài. Nhiễm khuẩn cấp đường hô hấp dưới (phế quản, phổi và phế nang) Nguy hiểm nhất là viêm phổi, vì đó là nguyên nhân gây tử vong cao cho trẻ và người cao tuổi. Trẻ 2-5 tuổi hay bị viêm phổi nhất. Bệnh thường phát sinh vào mùa đông-xuân, khi nhiệt độ thay đổi đột ngột. Nguyên nhân thường là vi khuẩn và virus, hiếm khi do nấm, mốc, động vật đơn bào. Có những trường hợp khởi đầu bị nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, không chữa trị kịp thời nên biến chứng lan vào phổi. Dấu hiệu thông thường của viêm phổi là sốt. Có trường hợp bắt đầu bằng cơn rét run, sau đó sốt mới xuất hiện, tiếp theo là tức ngực và ho, lúc đầu ho khan, về sau có đờm, ho làm tức ngực tăng thêm. Bệnh nhân khó thở, nhịp thở tăng nhanh, mạch nhanh, mệt mỏi, chán ăn. Các dấu hiệu viêm phổi ở người cao tuổi có khi không rõ rệt, sốt nhẹ hơn và đôi lúc có biểu hiện tâm thần như lú lẫn, chán ăn. Đối với trẻ nhỏ, sốt cao thường đột ngột (39-40 độ C), trẻ thở nhanh, ho khan, về sau mới có đờm, khó thở và nghe tiếng rít; mặt đỏ hoặc tím tái, có khi co giật, trướng bụng, nước tiểu ít và màu sẫm. Mỗi khi thấy trẻ dưới 1-2 tuổi có hiện tượng mệt mỏi, chán ăn thì phải chú ý ngay xem có sốt, ho, co giật không, giấc ngủ có bị lơ mơ, lồng ngực có co rút không, tiếng thở có khò khè không. Cần xem nhịp thở. Nếu nhịp thở trên 60 lần/phút với trẻ dưới 2 tháng tuổi, trên 50 lần/phút với trẻ 3-12 tháng tuổi, trên 40 lần/phút với trẻ 1-5 tuổi nghĩa là nhanh so với bình thường. Nếu thấy những dấu hiệu này, phải nghĩ đến viêm phổi cấp và đưa trẻ đến khám bác sĩ ngay để được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Việc sử dụng thuốc men, nhất là các kháng sinh, phải theo đúng chỉ định của thầy thuốc để tránh mọi nguy hiểm có thể xảy ra. Khi bị viêm phổi, ngoài thuốc do bác sĩ chỉ định, thì việc chăm sóc trẻ hết sức quan trọng. Phải cho trẻ nằm nghỉ tại giường, nơi thoáng khí nhưng không có gió lùa. Những ngày đầu cho ăn thức ăn lỏng và loãng, hợp khẩu vị, uống thêm nước hoa quả. Phải giữ hai lỗ mũi thông. Thường xuyên cứ 1-2 giờ lại lật người sang trái, sang phải một lần để thay đổi tư thế, phòng loét. Khi bệnh đã giảm vẫn phải tiếp tục cho trẻ nghỉ ngơi, cho ăn thêm bữa phụ, tăng các thức ăn giàu dinh dưỡng để bệnh chóng khỏi hơn. Cách phòng tránh nhiễm khuẩn cấp đường hô hấp Tích cực luyện tập và có chế độ dinh dưỡng hợp lý để tạo sức đề kháng với bệnh. Thường xuyên hoạt động ngoài trời, không nên để trẻ suốt ngày ở trong nhà thiếu ánh nắng. Mùa hè nên tắm rửa bằng nước lạnh để tạo khả năng thích ứng của cơ thể với sự thay đổi nhiệt độ. Mùa đông cần giữ ấm đầu, cổ, ngực và hai chân. Trong nhà trẻ, nếu phát hiện một cháu bị nhiễm khuẩn cấp đường hô hấp hoặc bệnh truyền nhiễm như sởi, ho gà... thì phải cách ly suốt thời gian có khả năng lây truyền. Người lớn không được hút thuốc lá tại nơi trẻ ngủ. Trong năm đầu sau khi sinh, trẻ phải được tiêm phòng một số bệnh hay lây truyền như sởi, ho gà, bạch hầu, uốn ván, bại liệt, lao. (Theo Sức Khỏe & Đời Sống) 
 

Bệnh ho ở trẻ em không chỉ gây "đau đầ"u cho các bậc cha mẹ mà ngay cả bác sĩ cũng phải hết sức cẩn thận khi điều trị. Các loại ho Ho có nhiều nguyên nhân. Khi khám một trẻ bị ho, bác sĩ phải hỏi đặc tính của cơn ho, nếu được nghe trẻ ho càng tốt. Nhìn cách thở của trẻ cũng giúp bác sĩ chẩn đoán được trẻ ho vì bệnh gì. Có nhiều loại ho: do cảm cúm, do dị ứng, do viêm phổi, viêm cuống phổi, do mủ ở màng phổi, ho gà, ho lao... Khi nào trẻ ho mà có nóng hoặc ho dai dẳng thì phải đưa đến bác sĩ khám ngay.


 Tuy nhiên, không phải cứ nghe bé ho là xin chụp hình phổi. Cần "tôn trọng" cơn ho của trẻ . Ðừng tìm cách dập tắt cơn ho tức khắc mà không biết nguyên nhân cụ thể. Trong trường hợp là ho "gió", ho "cảm" chút đỉnh thì cần để cho trẻ ho. Ngay cả trường hợp bị viêm phổi hay viêm cuống phổi, vẫn để bé ho tự nhiên để tống đàm nhớt ra ngoài cho dễ thở và bớt nhiễm độc. Ho vì viêm phổi mà chỉ uống thuốc ho thì bệnh càng nặng thêm. Bác sĩ chỉ cho uống thuốc ho khi thấy cơn ho làm bé mệt nhiều và mất ngủ khiến bé suy nhược. Ðiều trị + Ho không phải là bệnh, mà chỉ là một triệu chứng của nhiều căn bệnh khác. Do đó phải cần chữa đúng bệnh trước tiên, sau đó mới chữa ho. + Trong trường hợp trẻ bị ho tím tái ở môi, ở đầu ngón tay, ngón chân và khó thở (thở nhanh, dồn dập trên 60 lần/phút), có tiếng khò khè và co kéo cơ hô hấp ở cổ xuống sườn là những trường hợp nặng, phải đưa vào bệnh viện cấp cứu ngay. + Khó thở luôn là dấu hiệu báo động, phải cần đưa bé đến ngay các cơ sở y tế gần nhất. Nên khám bệnh ngay khi trẻ có các triệu chứng nóng, ho kèm khó thở. Phải chữa tới nơi tới chốn, đừng để bệnh kéo dài, tái đi tái lại làm trẻ mất sức. Khi điều trị săn sóc tại nhà, phải: - Cho uống thuốc theo toa bác sĩ. Giữ vệ sinh tổng quát.Hút đàm nhớt cho trẻ. Nếu không, đàm nhớt sẽ làm trẻ nghẹt thở. Chỉ nên cho trẻ ăn ít, nhưng nhiều lần trong ngày. Nên cho ăn thức ăn đặc. Nếu bị ói thì ngay sau khi trẻ ói xong, nên cho ăn lại liền, trẻ sẽ không bị ói nữa. - Dùng một cuộn băng, băng chặt bụng cũng giúp trẻ giảm cơn ho. - Nên giữ ấm cho trẻ. Ðề phòng những cơn lạnh đột ngột. - Không nên cho trẻ uống thuốc ho của người lớn vì thuốc ho của người lớn thường có chất á phiện, trẻ có thể bị chết vì trúng độc Bác sĩ Ðỗ Hồng Ngọc
 


SƯNG PHỔI là gì? Thuật ngữ trong y học phân chia ra: viêm phổi thùy, viêm phế quản, viêm phế quản-phổi... để chỉ tình trạng viêm nhiễm ở phổi. Phổi có ba phần chính là màng phổi, cuống phổi (phế quản) và phổi. trong dân gian dùng chữ sưng phổi là ngụ ý chỉ viêm phổi và cuống phổi. Vì SAO TRẺ CON DỄ BỊ SƯNG PHỔI?



 Cơ thể của trẻ con chưa đủ sức đề kháng với các tác nhân gây bệnh, dễ bị nhiễm lạnh. Hệ hô hấp của trẻ chưa hoàn thiện, dễ bị nhiễm trùng hô hấp. Cấu tạo cuống phổi trẻ chưa phát triển: đường kinh nhỏ, chiều dài ngắn, nên tình trạng viêm nhiễm dễ lan tràn xuống dưới.

Niêm mạc cuống phổi nhiều mạch máu và chất nhờn, khi viêm dễ bị phù nề, làm chít hẹp cuống phổi khiến bệnh nặng thêm. NGUYÊN NHÂN NÀO GÂY RA SƯNG PHỒI? Tác nhân gây bệnh có thể là siêu vi hay vi khuẩn Trẻ có thề mắc bệnh trực tiếp hoặc thứ phát sau khi bị sởi, ho gà, cảm cúm, viêm họng. cũng có thể bị viêm phổi sau khi hít sặc dị vật trong cuống phổi như thức ăn, chất ói... Trẻ suy dinh dưỡng dễ bị mắc bệnh hơn. Trẻ sơ sinh và trẻ dưới 3 tuổi thường bị các dạng viêm cuống phổi-phổi, viêm phổi do tụ cầu, hoặc viêm phổi do siêu vi. Còn trẻ lớn dễ mắc các dạng viêm cuống phổi cấp, viêm phổi thùy. TRIỆU CHỨNG CỦA SƯNG PHỔI RA SAO? Triệu chứng toàn thân do nhiễm trùng Trẻ thường có sốt cao đột ngột, nhất là đối với trường hợp nhiễm siêu vi. Buổi tối trước khi đi ngủ, bé vẫn ăn, chơi bình thường, giữa đêm khóc quấy. sờ thấy trẻ sốt cao, "nóng hổi như cục than". Có khi cha mẹ vừa phát hiện bé sốt thì bé đã lên cơn co giật. Trẻ có thể mệt mỏi, vật vã: lăn lộn, quấy khóc, lè nhè. Bỏ bú, không chịu ăn, đòi uống nước. Dà có thể "nổi vân" hay nổi bông"; bàn tay, bàn chân, trái tai lạnh, có khi trắng bệch. Triệu chứng hơ hấp. Nếu nhiễm siêu vi, trẻ thường hay sổ mũi, hắt hơi, chảy nước mũi. nước mắt, tròng trắng mắt trở nên đỏ. sung huyết. Ho : Lúc đầu ho khan, sau đó ho ngày càng nhiều, có đàm nhớt, đàm nhầy trong, trắng. có thể chuyển sang đục. có màu vàng hoặc xanh. nếu ho quá nhiều có thể lẫn tia máu trong đàm. Trường hợp viêm chủ mô phổi. ho tương đối ít hơn. nhưng viêm ở cuống phổi, nhất là ở các cuống phổi lớn hay ở thanh quản thì cường độ ho mạnh hơn. Trẻ phải vặn mình, ho sặc sụa, ho thốc tháo, ho cả bằng bụng, có khi ho đái ra trong quần, đỏ cả mặt và mệt nhoài, ho cho đến lúc văng cục đàm ở cuống phổi ra mới bớt ho. Sau mỗi cơn ho, trẻ trở nên đờ đẫn, vã mồ hôi và sốt có giảm chút ít. Hai ba ngày sau khi ho. trẻ than đau ở vùng ngực và bụng. Hơi thở : Trẻ bị viêm phổi nhẹ thường thở đều, nhịp thở trung bình. Nếu nặng, trẻ sẽ thở khó, thở nhanh 30-40 lần/phút. Cánh mũi phập phồng, co kéo trên xương ức, hõm cổ, môi bớt hồng, nhạt hoặc tím tái Khi trẻ thở, cha mẹ có thể nghe thấy tiếng khò khè. Nếu lấy tai áp vào lưng hay ngực trẻ sẽ nghe những tiếng lụp búp, khò khè, hoặc như những tiếng rít, tiếng ngáy. Thậm chí để tay sau lưng trẻ cũng có thể cảm nhận được tình trạng đó, thuật ngữ chuyên môn gọi những tiếng ấy là ran ấm, ran nổ ran rít, ran ngáy, tiếng thối VV... Trẻ cũng có thể có những triệu chứng khác như mạch nhanh, môi tạm,. sình bung. có khi tiêu chảy hay tiểu ít, ọc. ói... NÊN XỬ TRÍ THẾ NÀO? Khi nhận thấy trẻ sốt, ho và bệnh của trẻ có chiều hướng nặng dần thì nên đưa trẻ đi khám bệnh ngay. Nếu đang đêm trẻ sốt cao mà chưa thể đưa trẻ đi được thì nên tạm thời tìm cách hạ sốt cho trẻ. như đặt trẻ nơi kín gió, cởi bỏ bớt áo quần. đắp mát. lau mình trẻ bằng nước ấm, không nên đắp bằng nước đá. Có thể cho uống hoặc đặt vào hâu môn thuốc hạ nhiệt như paracetamol 10mg cho mỗi kg trọng lượng cơ thể mỗi lấn. Trong ngày có thể dùng từ 3 đến 4 lần. Ví dụ: Một trẻ nặng 8kg. thì uống mỗi lần một gói PARACETAMOL 150mg. Nếu trẻ lên cơn co giật. thì nên bình tĩnh và việc đầu tiên là nên để một cái muỗng cà phê vào miệng để trẻ khỏi cắn lưỡi, đặt cháu nằm nghiêng, đầu thấp và mang đi bệnh viện. Tuyệt đối không nên làm điều gì khác ngoài những việc đã chỉ dẫn. Nên nhớ kỹ: điều trị là việc của thầy thuốc. Chớ nên cho con mình uống thử thuốc này, thuốc nọ. đến khi bệnh nặng mới hỏi thầy thuốc. Rất mong các bậc cha mẹ nhớ lời dặn này. ykhoa.info
 

Thứ Năm, 19 tháng 9, 2013

Mùa nắng nóng, thức ăn dễ bị hư hỏng là môi trường thuận lợi cho nhiều loại vi khuẩn phát triển gây bệnh đường ruột, thường gặp nhất là tiêu chảy cấp ở trẻ em. Đây là căn bệnh gây tử vong hàng đầu cho trẻ em, nhất là trẻ dưới 5 tuổi.

Bệnh tiêu chảy có tốc độ lây lan rất nhanh chóng. Nó có thể gây nên những vụ đại dịch với tỷ lệ mắc bệnh cao và tử vong ở mọi lứa tuổi nếu không có những biện pháp dập dịch kịp thời. Đường lây truyền “kinh điển” nhất là đường tiêu hoá. Do ăn phải thức ăn, nước uống bị nhiễm virus, vi khuẩn.

Nguyên nhân gây bệnh
Theo Bác sĩ Trương Ngọc Dương, Khoa Nhi viện Quân y 103, nguyên nhân gây tiêu chảy ở trẻ nhỏ do ăn uống không sạch sẽ, do thay đổi khẩu phần ăn, ăn phải thức ăn nhiễm khuẩn, thức ăn lạ khiến trẻ không tiêu hoá được. Những trẻ không được bú sữa mẹ, trẻ bị suy dinh dưỡng, trẻ đang ở trong tình trạng bị suy giảm miễn dịch tạm thời (sau khi bị sởi, bị AIDS...) cũng có nguy cơ mắc tiêu chảy cao.
Cũng theo BS Nguyễn Văn Lộc, Phó GĐ viện Nhi T.Ư cho biết, tập quán ăn uống, chăm sóc của người lớn cũng là nguyên nhân gây nên tình trạng tiêu chảy cấp ở trẻ em. Nhất là cho trẻ bú bình không được rửa sạch hoặc cho uống lại sữa đã uống trước đó vài tiếng…
Cho bé ăn dặm sớm khi chưa qua 4 tháng tuổi khiến không tiêu hoá được dẫn đến bị tiêu chảy. Nhiều trường hợp trẻ còn bị tiêu chảy do dùng kháng sinh không hợp lý.
Biểu hiện của bệnh
Theo BS Lộc, biểu hiện đầu tiên là người bệnh đau bụng, đi ngoài liên tục, phân nhiều nước, mất nước, có thể bị sốt nhẹ, li bì hoặc hôn mê. Bệnh sẽ diễn biến nặng hơn với các biểu hiện cơ thể suy kiệt, mắt trũng, nôn mửa... Có trường hợp bị mất nước và chất điện giải, không cấp cứu kịp thời có thể dẫn đến tử vong.
Làm gì khi trẻ bị tiêu chảy?
Để phòng bệnh cho trẻ, phải thực hiện ăn chín, uống sôi, vệ sinh tay trước khi ăn. Không cho trẻ ăn quà vặt, hàng rong, không ăn rau sống, thức ăn ôi thiu, không uống nước lã. Sử dụng lồng bàn đậy đồ ăn và diệt ruồi nhặng.
Nguyên nhân tử vong ở trẻ tiêu chảy cấp chủ yếu do mất nước và điện giải. Bé càng đi ngoài nhiều thì lượng nước sinh lý trong cơ thể mất đi càng nhiều, vì thế, cần phải bù ngay lượng nước đã mất bằng cách cho trẻ uống nước Oresol.
Lưu ý, phải pha Oresol theo đúng qui định, uống đúng liều lượng hướng dẫn, tránh tình trạng gây rối loạn nước và điện giải khiến bệnh càng nặng hơn.
Không nên tự cho trẻ uống thuốc cầm ỉa hoặc ăn các lá và quả chát như lá nhọ nồi, lá ổi xanh, quả ổi xanh... Có thể sau khi uống, trẻ sẽ cầm ỉa ngay nhưng thực ra, điều này rất nguy hiểm vì nó làm cho bệnh càng thêm kéo dài, thậm chí nặng hơn do các virus, vi khuẩn được thải hồi chậm.
Không tự ý cho trẻ dùng thuốc vì nguyên nhân tiêu chảy chủ yếu do virus, hoặc do hoá chất nhiễm khuẩn, bệnh thường khỏi sau vài ngày điều trị, chủ yếu bù nước và điện giải mà không cần phải sử dụng thuốc. Một số trường hợp phải sử dụng kháng sinh nhưng phải có chỉ định và theo dõi chặt chẽ của thầy thuốc chuyên khoa.
Bác sĩ Dương cho biết, các bà mẹ thường quan niệm, trẻ bị tiêu chảy phải kiêng ăn thịt, cá, chất tanh, đường, sữa... thậm chí chỉ cho trẻ  ăn cháo muối trắng là một quan niệm sai lầm. Vì như vây, trẻ bị mất nước lại không đủ chất dinh dưỡng khiến cơ thể càng kiệt quệ hơn, không đủ sức chống đỡ lại bệnh tật. Tốt nhất là cho trẻ ăn uống bình thường, ăn những thức ăn dễ tiêu, chia làm nhiều bữa nhỏ và vệ sinh thân thể sạch sẽ.

Định nghĩa: Trẻ em đi đại tiện nhiều lần (trên 3 lần một ngày) và tính chất phân thay đổi: phân loãng, nhiều nước.
Bệnh ỉa chảy cấp thường diễn ra dưới 5 ngày, nếu trên 2 tuần là ỉa chảy kéo dài.
Nguyên nhân: thường do ăn và uống phải thức ăn, nước uống bị nhiễm khuẩn hoặc tiếp xúc với phân của người mắc bệnh.

Yếu tố thuận lợi: không rửa tay trước khi ăn, ăn rau sống rửa không sạch, uống nước lã chứa nhiều vi khuẩn gây bệnh. Trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ hoặc mắc một số bệnh như sởi, suy dinh dưỡng...

Bệnh cảnh lâm sàng: thay đổi tùy theo mức độ nặng nhẹ
- Hội chứng tiêu hóa: ỉa chảy, phân loãng, nhiều nước, đi nhiều lần (có khi15-20 lần/ngày). Phân mùi chua hoặc khó ngửi, có nhiều mũi nhày hoặc có máu. Có thể nôn.
- Mất nước điện giải: nhẹ: quấy khóc, vật vã hoặc lờ đờ, khát nước, nước tiểu giảm khối lượng, khóc không có nước mắt, mắt trũng, miệng khô, thở nhanh, sâu hơn bình thường, mạch nhanh nhỏ, thóp lõm, huyết áp tụt.
- Sốt: có thể sốt hoặc không.
Điều trị:
- Bồi phụ nước điện giải bằng các đường uống, tiêm truyền tĩnh mạch hoặc dùng ống thông mũi- dạ dày.
-Một số dung dịch để uống: ORS 1 gói pha trong đúng 1 lít nước sôi để nguội cho uống trong một ngày. Nếu chưa có sẵn gói oresol, có thể dùng 1 thìa cà phê muối (3,5g), 8 thìa cà phê đường (40g) pha vào 1 lít nước hoặc dùng bột gạo nấu thành nước cháo: bột gạo 50g (5 thìa canh), muối 3,5g (1 thìa cà phê), 1 lít nước; đun sôi 2-5 phút. Cho thêm vài thìa nước quả vào cháo để bổ sung kali.
- Một số dung dịch tiêm truyền: huyết thanh 9, glucoza 5%, lactat Ringer...
- Dinh dưỡng: không nên kiêng khem tránh thiếu hụt chất dinh dưỡng. Ngay sau khi bồi phụ nước điện giải, có thể cho trẻ bú và ăn ngay. Những trẻ nuôi bằng sữa bò sau khi bù đủ nước điện giải, cho trẻ ăn sữa loãng hơn bình thường hoặc cho ăn sữa pha với oresol (1/3 sữa pha với 2/3 ORS). Dần dần cho ăn theo chế độ bình thường, khi trẻ khỏi bệnh, mỗi ngày cho ăn thêm một bữa trong một tuần để lấy lại sức.
- Kháng sinh: chỉ nên dùng trong một số trường hợp : ampicillin, sunphamethoxazole hoặc acid nalidicique... 

TT - Thấy con cái gầy yếu, cha mẹ thường cho rằng do tiêu hóa không tốt. Vậy là lập tức đi mua men tiêu hóa với hi vọng... thúc tăng cân thật nhanh cho trẻ.

Dùng thuốc bừa bãi
Dạo qua một số cửa hàng tân dược tại phố Ngọc Khánh, Giảng Võ, Cầu Giấy... (Hà Nội), khi hỏi men tiêu hóa, chúng tôi được giới thiệu mấy chục loại, giá 200 - 300 đồng/gói cho đến 50.000-60.000 đồng/hộp. Chị Đỗ Minh Phương, một phụ huynh, kể con anh trai chị bị táo bón, gầy, sút cân.

Đi khám được bác sĩ kê “toa”: uống một tuần mà ăn ngon hơn, người khỏe hẳn ra. Con chị không bệnh gì nhưng ăn kém nên chị cũng mượn đơn, “lọc” ra chỉ mua nguyên liều dùng men tiêu hóa vì theo chị “thuốc này giúp ăn ngon, tiêu hóa tốt, lại chẳng phải kháng sinh gì mà lo hại người”.
Theo TS Nguyễn Tiến Dũng, phó trưởng khoa nhi Bệnh viện Bạch Mai, chuyện trẻ ăn ít hoặc ăn bình thường mà người gầy gò, hay đau bụng, đầy hơi là cha mẹ vội vàng mua men tiêu hóa về dùng rất phổ biến. Với quan niệm thuốc kích thích tiêu hóa chẳng hại gan hại ruột gì nên không ít người “tự chỉ định”. Thêm nữa, men tiêu hóa không nằm trong danh mục bán thuốc phải theo đơn nên giao dịch càng dễ dàng.
Thực chất, chỉ ở những người men tiêu hóa sẵn có quá ít, không đủ đáp ứng nhu cầu hấp thu thức ăn đưa vào cơ thể thì cần bổ sung men tiêu hóa dưới dạng thuốc.
Vi khuẩn có hại phát triển
Nhìn vào danh sách dài dằng dặc các loại men tiêu hóa chúng tôi “sưu tầm” được tại các cửa hàng thuốc, TS Dũng cảnh báo ngay: trong hơn 20 tên biệt dược này có đến gần một nửa không phải men tiêu hóa chính thống. Các nhà thuốc đánh đồng hai loại này thành tên chung là men tiêu hóa trong khi thực tế nguồn gốc của chúng là không giống nhau, cơ chế sử dụng và chỉ định cũng hoàn toàn khác nhau.
Các thuốc Lacteolfort, Lactomin, Lactomed, Biobaby... chỉ để dùng điều trị bệnh tiêu chảy cấp do virus và trường hợp bị thiếu hụt loại vi khuẩn đường ruột có lợi. Do đó, chủ yếu thuốc được áp dụng cho những bệnh nhân dùng kháng sinh kéo dài. Có tác dụng phụ là tiêu diệt cả những vi khuẩn đường ruột có lợi, tạo đà cho vi khuẩn có hại phát triển, đặc biệt làm cho vi khuẩn yếm khí lây lan, sinh ra chứng đau bụng khó chữa.
Nhóm thuốc thứ hai (gồm các loại như Tpepsin, Neopeptine, Neolacty...) mới đích thực là men tiêu hóa thức ăn. Chỉ định chủ yếu dùng cho người mắc các loại bệnh lý làm giảm men tiêu hóa như viêm loét dạ dày, viêm tụy mãn tính... Tuy nhiên, ngay cả với nhóm bệnh nhân này cũng không nên sử dụng kéo dài quá 10 ngày. Nếu dùng thuốc này như một thói quen, cơ thể thừa men thì tụy sẽ tự động ngừng tiết ra men tiêu hóa. Tụy không hoạt động lâu dài sẽ dẫn đến suy tụy, thiểu năng tuyến tụy, cơ thể không được bảo vệ dễ sinh nhiễm trùng.

Viêm phế quản cấp do siêu vi trùng đang diễn biến thất thường và chiếm hơn 60% trong tổng số bệnh nhi nhập bệnh viện Nhi Đồng 2. Thời tiết nóng bức của tuần qua đang là dấu hiệu đặc trưng về chuyển biến phức tạp của giai đoạn chuyển mùa. 

 
Đây thường là lúc có những bất thường về dịch bệnh và những bệnh cuối mùa nắng đối với trẻ em. Bác sĩ Trần Hữu Nhơn, Trưởng khoa Nội tổng hợp 1 bệnh viện Nhi Đồng 2 (TP.HCM), cho biết trong thời tiết này trẻ thường mắc 5 loại bệnh sau:

1. Viêm phế quản cấp do siêu vi
Đây là bệnh viêm nhiễm đường hô hấp chính ở trẻ em trong những ngày qua và đang chiếm tới 60% lương bệnh nhi nhập viện Nhi Đồng 2. Tình trạng viêm nhiễm này có thể xảy ra ở bất kỳ nơi nào ở phổi trẻ em.
Bệnh thường bắt đầu với triệu chứng ho khan kéo dài và tăng dần không đàm. Khi trẻ thở ra nghe được tiếng ran ở phế quản. Cơn ho thường dai dẳng và sau đó xuất hiện đàm nhớt. Sau 7-10 ngày đàm nhớt giảm và cơn ho cũng hết dần.
Nguyên nhân: thường do nhiều loại siêu vi nên cần loại trừ phân biệt với ho gà, lao, bạch hầu, suyễn.
Nếu xảy ra ở trẻ nhỏ cần loại trừ trường hợp dị dạng bẩm sinh đường thở, hóc dị vật…
Bệnh này thường gây ra các biến chứng như viêm tai giữa, viêm xoang, viêm phổi. Vì vậy phải sớm đưa trẻ đến cơ sở y tế để điều trị. Bệnh có tính lây lan nên cần cách ly trẻ bệnh. Để phòng ngừa cần cho trẻ đeo khẩu trang khi đi ngoài đường để tránh khói bụi, cho trẻ đi chích hoặc uống thuốc ngừa đúng hẹn.
Chú ý đảm bảo cho trẻ mặc ấm khi đi đường, nếu lỡ mắc mưa cần mau đưa trẻ về nhà lau khô và ủ ấm. Đảm bảo chế độ dinh dưỡng trong ăn uống, không bắt trẻ thức khuya, tránh tiếp xúc với khói thuốc lá.
2. Sốt cao giật do siêu vi
Biểu hiện thường gặp nhất là trẻ đang khoẻ mạnh, chơi bình thường, bỗng tỏ ra mệt mỏi với diễn biến nhanh và sau đó sốt cao lên cơn co giật khiến cho các bậc cha mẹ hoảng hốt.
Trước lúc đưa trẻ đến bệnh viện, các bậc cha mẹ và những cô nuôi trẻ cần bình tĩnh để cắt cơn co giật bằng những việc làm cụ thể như: lau mát cơ thể bằng khăn nhúng nước ấm thấp hơn nhiệt độ cơ thể lúc bấy giờ ít nhất 2 độ.
Cụ thể, trẻ đang sốt 39 độ, thì nước ấm thấp hơn 37 độ), không chích lễ, nặng chanh… Cần dùng viên hạ sốt Paracetamol (loại nhét hậu môn) với liều dùng 10-20mg/kg thể trọng nhét vào hậu môn trẻ.
3. Sốt phát ban
Triệu chứng ban đầu thường là sốt, ho, sổ mũi và xuất hiện ban đỏ. Lúc đầu, ban đỏ xuất hiện ở mặt, sau lan xuống bụng, tay, chân. Đặc điểm để phân biệt ban do hậu quả của sốt phát ban và ban do các nguyên nhân khác là ở chỗ thường thể hiện những chấm mịn như cám, màu đỏ, tuyệt đối không có các chấm bể miệng.
Ban thường lặn sau 3 ngày nhưng không mọc lại và có thể vài lần như thế.
Trẻ sốt phát ban thường không gây hoảng hốt nhiều cho cha mẹ như trẻ bị sốt lên cơn co giật như siêu vi, nhưng thường được nhận biết muộn và do chủ quan nên thường dẫn đến nhiều hậu quả khác.
Quá trình xử lý tại nhà: lưu ý là chỉ cho trẻ ăn các thức ăn dễ gây dị ứng ngoài da như cá biển, cua, ốc… Việc lau rửa, vệ sinh cho trẻ chỉ tiến hành vào buổi trưa, dùng nước ấm và lau nhanh.
4. Tiêu chảy cấp mất nước nặng
Các thức ăn, uống, nhất là hàng rong, vào thời điểm này thường bị nhiễm khuẩn bởi các loại khuẩn như E.Coli, phẩy khuẩn tả… Vi khuẩn hay siêu vi theo thức ăn vào ruột gây viêm ruột non cấp tính, niêm mạc và gây rối loạn hấp thụ.
Bệnh thường khởi phát đột ngột với các triệu chứng của bệnh tiêu chảy như trẻ ói, sau đó đi tiêu ra phân lợn cợn nước, có đàm, có lúc có máu hoặc phân xanh rêu, đau bụng, sốt, bụng chướng.
Ở mức độ tiêu chảy cấp mất nước nặng thì sẽ có 2 trong 4 dấu hiệu đặc trưng sau: li bì hoặc hôn mê, mắt trũng, khát nhưng không uống được hoặc uống rất ít, véo vào da thấy dấu véo mất chậm. Trong tình trạng này việc cần thiết là bù ngay lượng nước cho cơ thể trẻ, nếu trẻ không uống được thì bù bằng cách cho truyền tĩnh mạch với dung dịch được chọn là Lactate Ringer và khẩn trương đưa trẻ đến cơ sở y tế để cấp cứu.
5. Viêm màng não
Nguyên nhân là do vi trùng, hay siêu vi trùng gây nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương. Cần phải được chẩn đoán sớm để điều trị sớm, tránh những tổn thương não bộ và hệ thần kinh cùng các biến chứng.
Dấu hiệu lâm sàng: sốt, dã dượi, nhức đầu, cổ gượng, thóp phồng (ở trẻ nhỏ), co giật lơ mơ, có dấu thần kinh định vị.
Bác sĩ thăm khám lâm sàng có dấu Kerning và dấu Brudzinski, đôi khi xuất hiện liệt dây thần kinh.
Cách phòng ngừa: Tiêm chủng cho trẻ, tránh tiếp xúc với trẻ bị viêm màng não, sinh hoạt - ăn uống hợp vệ sinh.

Sắp khai trường, ngoài bao nỗi lo về đưa đón, chăm sóc, học phí,… phụ huynh cũng rất quan tâm tới chuyện ăn uống, phòng bệnh cho con trẻ trong môi trường tập thể. Một trong các vấn đề sức khỏe của trẻ là bé dễ bị tiêu chảy. Trong trường hợp này, phụ huynh thường lúng túng trong xử trí, có thể khiến bệnh của trẻ nặng thêm hoặc lâu hồi phục.

Tiêu chảy là bệnh thường gặp ở trẻ em. Hầu như trẻ nào cũng có lúc mắc bệnh này. Khi bé đi tiêu với phân lỏng hơn bình thường, đi nhiều lần (trên 3 lần mỗi ngày) là đã bị tiêu chảy. Tiêu chảy có thể là một bệnh của hệ tiêu hóa, cũng có thể là biến chứng đi kèm của viêm đường hô hấp hoặc do dùng thuốc.


Bé bị tiêu chảy được chăm sóc đúng tại nhà sẽ mau lành bệnh, ít biến chứng. Bé bị tiêu chảy bị mất nước và dễ đưa đến những biến chứng nặng nề, nghiêm trọng. Vì vậy phải cho bé uống bù nước ngay khi biết bé bị tiêu chảy. Các dung dịch bù nước thông dụng là ORS (hay Oresol), viên Hydrite, dung dịch muối đường... Pha dung dịch bù nước đúng sẽ giúp bé mau hồi phục và đỡ sụt cân lúc tiêu chảy. Mỗi gói ORS pha với 1 lít nước chín để nguội (không nên pha nửa gói ORS với nửa lít nước). Mỗi viên Hydrite pha với 200ml nước. Dung dịch muối đường pha bằng 1 lít nước với 1 muỗng cà phê muối gạt ngang và 8 muỗng cà phê đường gạt ngang. Dung dịch bù nước pha quá 12 giờ phải bỏ đi và pha lại dung dịch mới. Nếu trẻ không thích mùi vị của dung dịch bù nước này, hãy thay bằng dung dịch bù nước khác. Một số bé uống nhiều sẽ dễ nôn ói, lúc ấy nên cho bé uống làm nhiều lần, mỗi lần từng ít một (20ml - 50ml, tùy từng bé). Bé được bù đủ nước sẽ đi tiểu nhiều. Việc cho uống bù nước phải được duy trì đến khi bé đi cầu phân sệt và dưới 3 lần mỗi ngày.
Bé bị tiêu chảy thường biếng ăn, vì vậy phụ huynh cần hết sức kiên nhẫn. Thức ăn của bé trong những ngày này cần mềm hơn, lỏng hơn, nhưng vẫn phải đủ 4 nhóm bột, béo, đạm, rau và chia thành nhiều bữa nhỏ, cách khoảng 2 giờ một lần. Tiếp tục cho bé bú bình thường. Khi bé tiêu chảy kéo dài, trở nên dung nạp kém với đường lactose trong sữa thì thay bằng các loại sữa không có lactose theo chỉ định của bác sĩ.
Một số thói quen không đúng có thể gây ra những hậu quả trầm trọng:
- Hạn chế cho bé uống nước vì sợ uống vào lại tiêu chảy nhiều. Điều này dẫn đến thiếu nước, bé sẽ lâm vào tình trạng mà các bác sĩ gọi là rối loạn nước và điện giải, có thể đe dọa tính mạng.
- Uống thuốc “cầm” tiêu chảy, có thể sẽ làm liệt ruột, ứ đọng chất độc, bụng chướng to, bỏ ăn, khó thở.
- Cho bé ăn cháo trắng với muối, không cho bú mẹ... sẽ làm bé mau kiệt sức, suy dinh dưỡng, khó hồi phục.
- Cho bé uống thuốc không theo toa bác sĩ sẽ không hết bệnh, lại dễ dẫn đến ngộ độc thuốc.
Nên đưa bé đi khám bác sĩ khi bé có những triệu chứng: Tiêu chảy kéo dài trên 2 ngày mà không thuyên giảm. Phân bé có lẫn máu. Máu có thể màu đỏ tươi, hồng hoặc nâu đen lẫn nhầy như mũi. Bụng đau khi sờ ấn. Nôn ói nhiều, không thể cho ăn uống được. Có dấu hiệu mất nước nặng như da nhăn, mắt lõm, khóc không có nước mắt, thóp lõm, tiểu ít, lừ đừ, da nổi bông...
Để các bé ít mắc tiêu chảy, cần lưu ý giữ gìn vệ sinh trong việc ăn uống của bé: thực phẩm rửa sạch và nấu chín; không cho dùng thức ăn bán ngoài đường không đảm bảo vệ sinh; sử dụng nguồn nước sạch; rửa kỹ tay trước khi chăm sóc bé và cho bé ăn; tránh để bé tiếp xúc với người bệnh; tránh sử dụng kháng sinh bừa bãi… Với trẻ lớn có thể cho trẻ dùng sữa chua thường xuyên để tạo môi trường tốt cho các vi khuẩn có lợi trong đường ruột (như Bifidus, L Bacillus) phát triển, giúp hệ tiêu hóa khỏe mạnh, ngăn ngừa tiêu chảy.

Thứ Tư, 18 tháng 9, 2013


Bài viết dưới đây sẽ trình bày những triệu chứng đau bụng ở trẻ em nhằm giúp cha mẹ mau chóng đưa con em mình đi khám bác sĩ; đồng thời có thái độ bình tĩnh, nhận biết đúng bản chất nặng nhẹ của chứng đau bụng và xử trí an toàn những trường hợp đau bụng không cần thiết phải đến bác sĩ.

Các triệu chứng của đau bụng cấp 
Ðầu tiên cần loại trừ tình trạng đau bụng cấp. Ðau bụng cấp là tình trạng cần phẫu thuật khẩn cấp. Mổ sớm sẽ có tác dụng tốt cho sức khỏe của trẻ. Thậm chí tính mạng của bé có thể bị đe dọa nếu điều trị trễ vài giờ.

Các triệu chứng sau đây là biểu hiện của tình trạng đau bụng cấp. Khi có hoặc nghi ngờ là một trong những triệu chứng này, cần đưa bé đến bệnh viện ngay:
- Ðau bụng dữ dội.
- Ðau bụng khiến bé không dám cử động.
- Ðau bụng có kèm ói mửa, chất ói có màu xanh rêu hoặc nâu, đen.
- Bé có những biểu hiện như bụng cứng, bụng đau khi sờ đến và có đề kháng (cơ thành bụng co lại, cản trở tay người ấn bụng không thể ấn sâu).
- Bé đau bụng cộng với toàn trạng có vẻ rất bệnh hoạn, sức khỏe toàn thân suy sụp nhanh chóng, lừ đừ hoặc kích thích, hốt hoảng.
Trong số các bé bị đau bụng, những biểu hiện đau bụng cấp như trên tuy hiếm nhưng đòi hỏi phải luôn cảnh giác.
Ðau bụng do tiêu chảy
Khi bé đau bụng có kèm tiêu chảy rõ ràng, phân tóe nước và đi nhiều lần, có thể kết luận là đau bụng do tiêu chảy. Tùy mức độ tiêu chảy, gia đình có thể chăm sóc bé ở nhà nếu nắm vững cách xử trí tiêu chảy (có thể tìm hiểu vấn đề này ở các cơ sở y tế) hoặc đưa bé điều trị tại bệnh viện.
Ðau bụng do nhiễm giun
Những trường hợp đau bụng đã kéo dài nhiều tuần, các cơn đau tái đi tái lại, vị trí đau ở vùng quanh rốn và không khu trú cụ thể thường được cho là đau bụng do giun đũa. Chẩn đoán nhiễm giun dựa vào xét nghiệm phân thấy có trứng giun. Rất nhiều trường hợp đau bụng như thế cuối cùng đã được kết luận là đau bụng cơ năng; và không thấy ảnh hưởng gì đáng kể đối với sức khỏe của bé.
Ðau bụng do nhiễm trùng
Các bệnh nhiễm trùng, đặc biệt là viêm amiđan, viêm phổi, sốt rét, viêm gan cũng có kèm triệu chứng đau bụng. Nguyên nhân hay gặp nhất của những cơn đau bụng mới chỉ xuất hiện vài ba ngày là nhiễm trùng. Dĩ nhiên, khi điều trị dứt nhiễm trùng thì đau bụng cũng sẽ hết.
Nhiễm trùng đường tiểu cũng gây đau bụng. Bé bị nhiễm trùng đường tiểu đau bụng ở vùng trên xương mu, đi tiểu đau (bé khóc khi đi tiểu), tiểu lắt nhắt nhiều lần, mỗi lần một ít hoặc đau ở vùng hông. Bé gái hay bị nhiễm trùng tiểu hơn bé trai. Nhiễm trùng tiểu đòi hỏi phải điều trị kỹ lưỡng, dài ngày nhằm tránh tác hại lâu dài.
Tóm lại:
- Ðau bụng là biểu hiện của tình trạng đau bụng cấp, tuy hiếm gặp nhưng đòi hỏi cha mẹ phải cảnh giác và đưa bé đến bệnh viện ngay khi có một trong các triệu chứng nghi ngờ.
- Bé đau bụng do tiêu chảy có thể tự điều trị ở nhà nếu người chăm sóc nắm vững cách thức xử trí tiêu chảy.
- Ðau bụng mạn tính (tức đau bụng xuất hiện đã nhiều lần, tái đi tái lại khó chẩn đoán ra căn nguyên), nguyên nhân thường gặp nhất là do nhiễm giun đũa. Mức độ đau không nhiều cũng như không ảnh hưởng đáng kể đối với sức khỏe của bé.
- Ðau bụng mới xuất hiện vài ngày có nguyên nhân thường gặp nhất là nhiễm trùng. Phụ huynh có thể yên tâm rằng đau bụng sẽ được điều trị dứt khi bé hết nhiễm trùng.

TS Nguyễn Tiến Dũng, Phó trưởng khoa Nhi BV Bạch Mai cho biết, tuy mới ở thời điểm giao mùa thu - đông, song theo những số liệu mới nhất cho thấy miền Bắc có nguy cơ bùng phát dịch tiêu chảy mùa đông.

Dễ lây chéo
 TS Dũng cho biết, tiêu chảy mùa đông thường do rotavirus gây ra và thường chỉ kéo dài trong 3 - 7 ngày. Trẻ bị bệnh thường có các biểu hiện sốt nhẹ, quấy khóc, hơi mệt, nôn, tiêu chảy... Trẻ đi ngoài nhiều lần, phân lỏng, màu vàng chanh hoặc trắng lẫn dịch nhầy, có khi như màu hoa cà, hoa cải.

 Bệnh dễ phát sinh thành dịch do nguy cơ lây chéo cao. Tình trạng lây chéo không chỉ xảy ra ở bệnh viện mà còn xảy ra ở gia đình. Thậm chí, có gia đình cả nhà đều bị bệnh tiêu chảy do khâu vệ sinh, phòng chống kém. Đây chính là nguyên nhân khiến bệnh tiêu chảy mùa đông bùng phát thành dịch rất nhanh.
 Mặc dù đây là bệnh thông thường nhưng đáng lo ngại là tình trạng phụ huynh điều trị sai, coi thường hoặc hiểu nhầm tiêu chảy mùa đông sang bệnh khác đang rất phổ biến. Ngay tại Hà Nội, hiện vẫn có nhiều cháu bé được đưa tới bệnh viện quá muộn. Khi nhập viện đều có triệu chứng nôn, sốt cao trên 38oC và mất nước trầm trọng. Nguyên nhân do bệnh xảy ra chủ yếu ở trẻ dưới 5 tuổi, các triệu chứng tiêu chảy không xuất hiện đồng thời và mất đi sớm, nên phụ huynh thường hiểu nhầm là trẻ sốt, quấy do mọc răng, hay bị cảm về đêm...
 Cẩn trọng khi bù dịch
 TS Dũng khẳng định, trẻ bị tiêu chảy mùa đông bị mất nước, mất điện giải trầm trọng có thể dẫn tới tử vong nếu không được bù nước, bù điện giải kịp thời. Tuy nhiên, nhiều gia đình bù phụ nước, điện giải cho trẻ không hợp lý. Điển hình là các trường hợp chỉ cho trẻ uống nước lọc nên không hiệu quả; cho trẻ uống cháo gạo quá mặn, uống nước hoa quả pha đường, thậm chí cho trẻ uống cocacola, soda và các loại nước có ga cấm dùng cho trẻ tiêu chảy... làm cho trẻ càng tiêu chảy nặng hơn.
 Điều quan trọng nhất khi trẻ bị tiêu chảy mùa đông là phải bù điện giải cho trẻ, tốt nhất là bằng nước oresol. Thị trường hiện có nhiều loại oresol dành cho trẻ em với hương vị rất dễ uống. Oresol pha vào nước theo đúng quy định khi cho trẻ uống sẽ có tác dụng bồi phục nước và điện giải đã mất. Nhưng nếu pha không đúng quy định sẽ càng gây rối loạn nước và điện giải, tình trạng tiêu chảy càng nặng hơn, trẻ có thể tử vong. Cha mẹ cần tuân thủ hướng dẫn pha oresol, pha cả gói, thể tích nước phải đong thật chính xác đến từng ml theo quy định ghi ở ngoài gói và cho trẻ uống đúng cách, uống từng ít một, uống liên tục và rải rác trong ngày. Nếu có điều kiện dùng thêm các loại thuốc giúp ruột nhanh hồi phục như men vi sinh theo chỉ định của bác sĩ. 
 Tuyệt đối không dùng kháng sinh
 Khi trẻ bị tiêu chảy, vẫn phải cho trẻ ăn uống bình thường, không kiêng khem. Nhiều bà mẹ quan niệm sai lầm rằng, trẻ bị tiêu chảy thì phải hạn chế thậm chí nhịn ăn, kiêng thịt, cá, chất tanh, đường, sữa... làm trẻ không đủ sức chống đỡ lại bệnh tật nên tiêu chảy càng kéo dài, nguy cơ bị suy dinh dưỡng rất cao. Do vậy, cần đảm bảo cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho trẻ, cho bú bình thường, ăn các thức ăn dễ tiêu hoá và ăn nhiều bữa nhỏ.
 Khi bé bị tiêu chảy do virus, cha mẹ tuyệt đối không được cho con uống thuốc kháng sinh nếu không sẽ có nguy cơ rối loạn vi khuẩn đường tiêu hoá, làm cho bệnh càng trở nên nặng hơn, hoặc gây tình trạng tiêu chảy kéo dài, chưa kể các tác dụng phụ do thuốc gây ra.
 Hay như nhiều gia đình vẫn cho trẻ ăn các loại lá và quả chát có nhiều chất tanin như lá nhọ nồi, lá ổi xanh, quả ổi xanh, quả hồng xiêm xanh... ngay lập tức sẽ có tác dụng cầm tiêu chảy. Vì chất Tanin có tác dụng làm săn màng ruột, có tác dụng ngay tức khắc, nhưng cách điều trị này có thể gây hại cho cơ thể. Vì thực chất, bệnh chỉ đỡ giả tạo, còn các tác nhân gây bệnh như virus, vi khuẩn, nấm, hoá chất... thải hồi rất chậm do màng ruột bị săn, làm cho bệnh càng thêm kéo dài, thậm chí nặng hơn.
 Phòng bệnh ỉa chảy cho trẻ trong mùa lạnh quan trọng nhất là đảm bảo vệ sinh và dinh dưỡng trong khẩu phần ăn để trẻ đủ sức chống đỡ bệnh, cơ thể chóng phục hồi, không bị suy sụp vì thiếu dinh dưỡng sau tiêu chảy.

Thời gian gần đây, số trẻ em mắc bệnh tiêu chảy phải nhập viện ngày càng gia tăng. Nhiều gia đình có tới 3, 4 trẻ cùng bị bệnh. Thống kê  tại Bệnh viện Nhi Trung ương, mỗi ngày có từ 30-35 trẻ bị tiêu chảy cấp  nhập viện với các triệu chứng nặng cần phải được  can thiệp kịp thời.

Tiêu chảy kéo dài, thường kéo dài từ 10 đến 14 ngày, được khởi đầu bằng một đợt tiêu chảy cấp. Biểu hiện lâm sàng của bệnh là trẻ đi ra phân lỏng, mùi chua, có bọt, nhiều gaz, hậu môn đỏ, phân nước (cơ thể kém hấp thu đường); phân nhầy bóng mỡ (kém hấp thu mỡ); phân xốp với khối lượng lớn (kém hấp thu đạm); phân có màng nhầy máu khi bị lỵ trực khuẩn; phân nát không thành khuôn. Đó là những triệu chứng nhiễm trùng của nhiều loại vi khuẩn, vi rút và ký sinh trùng đường ruột.

Các yếu tố và nguy cơ gây bệnh tiêu chảy kéo dài ở trẻ là do trẻ bị suy dinh dưỡng, không được nuôi bằng sữa mẹ (ăn sữa bò tiêu chảy kéo dài tăng 25-200%); trẻ có tiền sử thường xuyên tiêu chảy, mắc bệnh sởi, lỵ, các bệnh nhiễm khuẩn, trẻ bị suy giảm miễn dịch; do điều trị tiêu chảy cấp không đúng...
 Để điều trị bệnh, ngoài việc bù nước với dung dịch gồm nước, glucoza, chất điện giải thì một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu mà các chuyên gia tiêu hóa và dinh dưỡng đưa ra là điều trị dinh dưỡng (97,14% nguyên nhân gây tử vong ở trẻ bị tiêu chảy kéo dài trên thế giới là do suy dinh dưỡng nặng). Bởi khi mắc bệnh, sẽ làm  giảm lượng thức ăn đưa vào cơ thể (có thể đến 30% các chất dinh dưỡng) ngay ở những ngày đầu tiên trẻ bị tiêu chảy cấp vì chán ăn.
Trong thời kỳ tiêu chảy, cơ thể trẻ giảm hấp thu các chất dinh dưỡng do nhu mao ruột bị tổn thương nên diện tích hấp thu giảm, làm thiếu các men disaccharidase, giảm nồng độ muối mật trong ruột (cần thiết cho quá trình hấp thu chất béo). Bên cạnh đó, nhu cầu các chất dinh dưỡng của trẻ bị tiêu chảy thường tăng phục vụ cho việc chuyển hóa, phục hồi tế bào ruột bị tổn thương, bù lại protein huyết thanh bị mất... Tuy nhiên, không phải hễ bị tiêu chảy là trẻ  suy dinh dưỡng. Thực ra, trong quá trình trẻ bị tiêu chảy, một lượng lớn các chất dinh dưỡng vẫn được tiêu hóa, hấp thu và sử dụng. Chế độ nuôi dưỡng hợp lý sẽ thúc đẩy sự phục hồi của niêm mạc ruột, kích thích sản xuất các men tiêu hóa, giúp sự hấp thu các chất dinh dưỡng sớm trở lại bình thường.
 Vì vậy, bác sỹ dinh dưỡng đã khuyên các bà mẹ nên chú ý sử dụng chế độ ăn theo công thức của Tổ chức Y tế thế giới gồm ngũ cốc, sữa, đậu nành, dầu, cháo thịt gà cho trẻ khi mắc bệnh, vì những thức ăn này cung cấp hàm lượng năng lượng cao, có axít amin cần thiết giúp quá trình điều trị bệnh khỏi nhanh. Tuyệt đối không được phòng bệnh cho trẻ bằng cách uống kháng sinh khi trẻ chưa mắc bệnh.  Bệnh truyền qua thức ăn và sữa của trẻ bị nhiễm khuẩn. Trong nhà trẻ bệnh còn lây qua đồ chơi và bàn tay của trẻ nhiễm khuẩn. Do đó, phải rửa tay vệ sinh sạch sẽ cho trẻ trước khi ăn và sau khi đại tiện.     

Tiêu chảy là nguyên nhân quan trọng gây bệnh và tử vong cao cho trẻ em các nước đang phát triển, những trường hợp nặng thường tập trung ở trẻ nhỏ dưới 2 tuổi. Tại nước ta, tiêu chảy là một trong những nguyên nhân đến phòng khám nhiều nhất và là bệnh lý nhập viện cao nhất ở trẻ em.

Trong điều trị tiêu chảy, ngoài việc dùng thuốc, bù dịch do bác sĩ chỉ định, việc duy trì chế độ dinh dưỡng và chăm sóc trẻ rất quan trọng. Một trong những biến chứng ít được các bà mẹ lưu ý có thể gặp là hăm da do tiêu chảy. Tình trạng da quanh hậu môn bị viêm đỏ lên trong quá trình bị tiêu chảy, nếu không được phát hiện và chăm sóc kịp thời sẽ lan rộng, trở nên loét trợt, có mủ lâu lành biến chứng gây sốt, nhiễm trùng tiểu, nhiễm trùng huyết rất nguy hiểm.


Trẻ dưới 3 tuổi dễ bị hăm da
Nghiên cứu Điều dưỡng thực hiện tại BV Nhi Đồng 1 mới công bố cho thấy trẻ em dưới 3 tuổi có thể bị hăm da do tiêu chảy. Cụ thể qua tiến hành khảo sát, hăm da xảy ra tập trung ở trẻ nhỏ hơn 2 tuổi, xảy ra trẻ trai nhiều hơn trẻ gái.
Nguy cơ cao ở những trẻ tiêu chảy nhiều lần, trên 10 lần trong ngày. Trẻ bú sữa nhân tạo (bú bình), trẻ sử dụng tã giấy không đúng cách cũng là những trẻ có nguy cơ bị hăm da do tiêu chảy. Do vị trí quanh hậu môn nên hầu hết các bà mẹ đều không chú ý phát hiện sớm.
Tại sao trẻ mắc bệnh tiêu chãy dễ bị hăm da
Nguyên nhân chủ yếu do da vùng quanh hậu môn tiếp xúc thường xuyên với các chất kích thích da. Khi trẻ bị tiêu chảy nhiều lần không được chăm sóc, vệ sinh thích hợp, da vùng quanh hậu môn sẽ bị ẩm ướt thường xuyên bởi phân và nước tiểu. Sự hiện diện của các men đường ruột, vi sinh vật có trong phân và ammoniac có trong nước tiểu sẽ gây kích thích da, gây viêm cấp tính làm da bị đỏ lên gây hăm da, loét da.
 Tình trạng ẩm ướt liên quan với số lần đi cầu nhiều lần. Những trẻ nhỏ có làn da mỏng manh, ít khả năng chống đỡ với các chất gây viêm nên dễ bị hăm da hơn trẻ lớn. Những trẻ bú sữa nhân tạo có độ pH của phân cao hơn trẻ bú mẹ nên cũng dễ bị hăm da hơn. Ngoài ra những yếu tố khác như sử dụng tã giấy không đúng cách; chọn tã chật quá gây cọ sát da; không thay tã sau mỗi lần đi tiêu, tiểu hoặc thay không đúng cách; mặc tã vào lúc vùng mông còn ướt gây ẩm ướt thường xuyên là những nguyên nhân gây nên hăm da ở trẻ em tiêu chảy.
Nhận biết hăm da
Hăm da do tiêu chảy cấp: Thường xuất hiện vào ngày thứ 2 đến ngày thứ 5 sau khi bị tiêu chảy. Quan sát da vùng quanh hậu môn có màu đỏ tươi, sau thành loét đỏ, chảy nước, chảy máu, diễn tiến có mủ. Trẻ bị hăm da thường đau lúc đi cầu, quấy nhiều, thậm chí kém ăn, ít ngủ rất khó chăm sóc. Hăm da ở trẻ tiêu chảy có thể tồn tại mà người nhà không phát hiện được do vị trí quanh hậu môn ít được quan sát.
Hăm da bội nhiễm: Khi vùng hăm da bị trầy loét, có mủ. Lúc này thường có dấu hiệu toàn thân sốt cao, có khi nơi hăm da trở thành ổ mủ kéo dài cả tháng.
Hăm da lan rộng: khi lan ra 2 bên bẹn và bộ phận sinh dục ngoài, da bị đỏ loét, chảy nước. đỏ vùng bộ phận sinh dục ngoài thường kèm theo biến chứng nhiễm trùng tiểu làm trẻ tiểu đau, tiểu khó, gây sốt kéo dài.
Chăm sóc trẻ bị hăm da
Nếu phát hiện sớm khi mới bị hăm da và được chăm sóc thích hợp, tình trạng hăm da thường lành từ từ trong vòng 5 đến 10 ngày. Cách chăm sóc trẻ bị hăm da tại nhà nhằm vệ sinh, giữ khô da để ngăn chận viêm da diễn tiến tiếp tục. Giúp da mau lành bằng cách làm thoáng để giảm ngứa và giảm các kích thích ở da:
Cho trẻ ở nơi thoáng mát để không bị ẩm ướt
Vệ sinh da đúng cách, thay tã thường xuyên, sau mỗi lần trẻ đi tiêu tiểu. Rửa sạch da nhẹ nhàng bằng nước ấm và xà phòng, tránh chà sát mạnh, chờ khô da mới mặc tã.
Làm thoáng da: Băng tã không quá chặt. Buổi tối hoặc khi trẻ ngủ có thể để thoáng tã, có thời gian để da bị hăm tiếp xúc với không khí. Lưu ý chọn tã phù hợp với kích thước trẻ, không quá nhỏ, không mặc tã quá chật.
Nếu hăm da bị trầy loét, chảy nước, bôi tại chỗ dung dịch sát khuẩn có tác dụng làm khô da như dung dịch xanh methylène, betadine.
Không bôi phấn rôm vì phấn sẽ bám lên vùng hăm da gây kích thích.
Đưa trẻ đi khám bệnh khi trẻ trông mệt, vùng hăm da lan rộng, trầy loét, chảy máu, có mủ, trẻ có thêm dấu hiệu sốt hoặc hăm da không giảm sau 3 ngày.
Phòng ngừa
Trẻ bị tiêu chảy, đặc biệt vào mùa nóng da luôn ẩm ướt. Cho trẻ ở nơi thoáng mát. Giữ vệ sinh cá nhân, tắm rửa cho trẻ, thường xuyên thay tã để ngăn ngừa da tiếp xúc với phân và nước tiểu kéo dài. Đảm bảo cho trẻ ăn đủ chất, uống nhiều nước, tránh ăn uống quá ngọt, không cho trẻ uống nước ngọt các loại, nước tăng lực, nước trái cây pha nhiều đường. Điều trị tốt bệnh tiêu chảy. Quan sát vùng quanh hậu môn mỗi ngày để phát hiện và điều trị kịp thời tình trạng hăm da do tiêu chảy.
Design by Hao Tran | Blogger Theme by Sức khỏe sinh sản -