Bệnh sởi là một bệnh nhiễm virus cấp tính ở trẻ nhỏ với hai dấu hiệu chính là: sốt cao, nốt ban đỏ khắp cơ thể và có ít nhất một trong những dấu hiệu sau đây:
- Ho
- Chảy nước mũi - Miệng đỏ và đau, có nốt ban trắng ở niêm mạc miệng (hạt koplik) - Mắt đỏ
Sau 8-12 ngày bị nhiễm virus, xuất hiện các dấu hiệu đầu tiên. Các dấu hiện bệnh xuất hiện tuần tự như sau: sốt cao, ho, mắt đỏ và có các nốt trắng ở miệng. Các dấu hiệu trên xuất hiện 3-4 ngày thì nốt ban đỏ xuất hiện, thường bắt đầu từ sau tai và trước trán, sau đó lan khắp cơ thể.
Ban đỏ xuất hiện sau 1-2 ngày thì nốt trắng ở miệng biến mất. Sốt thuyên giảm sau 3-4 ngày có ban đỏ và ban biến mất sau 5-6 ngày, để lại trên da những vết tím trong một thời gian. Trong giai đoạn phục hồi, da thường đóng vẩy. Thời gian phục hồi có thể kéo dài hàng tháng. Trong thời kỳ này trẻ dễ dàng bị mắc các bệnh nhiễm khuẩn khác và sức đề kháng của cơ thể giảm.
Bước xử trí đầu tiên sau khi chẩn đoán sởi là phân loại xem trẻ mắc sởi thể nhẹ (không có biến chứng) hay thể nặng (có biến chứng).
Hỏi bà mẹ để biết trẻ có các dấu hiệu sau đây hay không: ho, thở nhanh, khó thở, thở rít (thì hít vào), co giật, ngủ li bì, tai chảy dịch, tiêu chảy, nôn, bú kém hoặc bỏ bú.
Thầy thuốc khám (quan sát và lắng nghe) để tìm các dấu hiệu sau đây: thở nhanh, rút lõm lồng ngực, mất nước, suy dinh dưỡng nặng, tổn thương giác mạc mắt, màng nhĩ đỏ, tai chảy dịch, loét niêm mạc.
Sởi nặng thường xảy ra ở những trẻ chưa được tiêm chủng và bị:
- Thiếu vitamin A.
- Sống ở nơi đông đúc.
- Dưới 1 tuổi.
- Suy dinh dưỡng nặng.
- Suy giảm miễn dịch (nhiễm HIV hoặc mắc AIDS).
- Bị lây sởi từ người khác trong nhà.
Xử trí trẻ bị sởi nhẹ
Trẻ bị sởi nhẹ là chưa có biến chứng và có thể điều trị tại nhà.
Nuôi dưỡng: Cần tích cực động viên trẻ ăn và uống. Nếu trẻ còn bú mẹ, cần tiếp tục cho bú. Đối với những trẻ ăn sam, cần tăng cường thức ăn giàu năng lượng. Cho trẻ ăn từng ít một và tăng thêm một số thức ăn. Thức ăn nên nấu mềm, dễ ăn. Cho trẻ uống nhiều nước, nhất là các loại nước hoa quả tươi để bổ sung vitamin. Cho trẻ uống một viên nang vitamin A (trẻ trên 1 tuổi uống loại viên 200.000 đv, dưới 1 tuổi cho uống 100.000 đv). Đưa cho bà mẹ viên thứ hai và dặn cho trẻ uống vào ngày hôm sau.
Nếu trẻ sốt (từ 39oC trở lên), hoặc quấy khóc vật vã nhiều, hướng dẫn bà mẹ cho trẻ dùng paracetamol. Nếu trẻ bị sốt (nhưng không có thở nhanh), có thể cho dùng thuốc hạ sốt đông y, ví dụ như chanh hấp mật ong. Nếu trẻ bị tắc mũi, có thể nhỏ mũi bằng nước muối sinh lý. Nhỏ nước muối sinh lý vào một mảnh vải bông sạch mềm. Cuộn mảnh vải thành hình sâu kèn, rồi đặt nhẹ nhàng vào lỗ mũi trẻ.
Giữ gìn vệ sinh răng miệng cho trẻ bằng cách thường xuyên dùng gạc sạch lau rửa miệng bằng nước sạch pha một ít muối hoặc nếu có vết loét thì chấm thuốc tím 1%. Lau mắt cho trẻ hằng ngày bằng vải bông sạch thấm với nước sạch. Nhỏ mắt bằng thuốc nhỏ mắt chloramphenicol 0,4%.
Nếu bệnh tình không đỡ, trẻ ốm nặng hơn, có dấu hiệu của biến chứng, trẻ không ăn, trẻ nhỏ bỏ bú, bị đau tai, niêm mạc miệng bị loét nặng, cần đưa trẻ đến các cơ sở y tế để được can thiệp kịp thời. Đối với các cháu đã khỏi vẫn cần được theo dõi cẩn thận và thường xuyên đưa đến y tế kiểm tra để kịp thời phát hiện các bệnh nhiễm khuẩn khác hay mắc sau sởi.
Xử trí trẻ bị sởi nặng
Tất cả các trẻ bị sởi nặng cần được điều trị tại bệnh viện. Về cơ bản cũng điều trị giống như sởi nhẹ. Ngoài ra cần phải điều trị các biến chứng và các bệnh nhiễm khuẩn kèm theo như viêm phổi, viêm thanh quản, viêm khí quản do vi khuẩn, tiêu chảy, tổn thương giác mạc, viêm tai cấp, suy dinh dưỡng, có nguy cơ bị mù, viêm não mất nước...
Trẻ bị biến chứng sởi nặng thường có các dấu hiệu: ho kèm thở nhanh, thở rít (thì hít vào), mất nước, phân có máu, cân nặng thấp, có những sẩn trắng hoặc vết loét ở giác mạc, ngủ li bì hoặc co giật.
Ngày nay, nhờ thành quả tiêm chủng mở rộng, trong nhiều năm qua số trẻ bị mắc sởi đã giảm hẳn. Các thể bệnh nặng và biến chứng hầu như rất hiếm gặp.
Để phòng bệnh sởi, cách tốt nhất là cho trẻ tiêm văcxin phòng sởi theo lịch tiêm chủng do Bộ Y tế quy định: mũi 1 khi trẻ được 9-11 tháng tuổi; tiêm nhắc mũi 2 khi trẻ vào lớp 1 (6 tuổi).
|
Thứ Ba, 1 tháng 10, 2013
11:00
Unknown
10:58
Unknown
Bệnh tay, chân, miệng (TCM) đang lây lan nhanh ở nhiều địa phương như Ninh Thuận, TP.HCM, Qui Nhơn, Kiên Giang và còn có thể lan ra cả các tỉnh phía Bắc... Chuyên gia y tế trả lời mọi thắc mắc của bạn đọc về bệnh này. Mời bạn đọc có nhu cầu tìm hiểu thêm về bệnh này đặt câu hỏi...
Nhiễm bệnh sau bao lâu thì khởi phát triệu chứng ?
Thời gian ủ bệnh (“incubation period“) khoảng 3 đến 7 ngày. Trong bệnh TCM thì sốt là triệu chứng thường biểu hiện trước tiên.
Làm thế nào biết trẻ mắc bệnh Tay Chân Miệng (TCM)?
Biểu hiện sớm nhất của bệnh là sốt nhẹ, chán ăn, mệt mỏi. Đặc biệt, bệnh rất dễ nhầm lẫn với các bệnh khác như viêm da bóng nước do nhiễm khuẩn, bệnh do nhiễm siêu vi hoặc bệnh thủy đậu.
Trong 1 - 2 ngày sẽ xuất hiện những nốt hồng ban đường kính vài mm nổi trên nền da bình thường, sau đó trở thành bóng nước. Ở miệng có dạng vết loét, có đường kính từ 4 – 8mm, thường ở phía trong miệng, ở trên lưỡi , tại vòm miệng hoặc ở lợi răng làm trẻ nuốt đau. Với triệu chứng này, cha mẹ thường nhầm lẫn với với bệnh viêm loét miệng thông thường. Những bóng nước ngoài da thường xuất hiện ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, cẳng chân hoặc ở cánh tay.
Trẻ nhũ nhi có thể có ban dạng sẩn vùng mông hoặc nơi quấn tã lót.
Trong giai đoạn cấp, ngoài những dấu hiệu trên, đôi khi bệnh kèm theo triệu chứng như hạch ở cổ, hạch dưới hàm, ho, sổ mũi, tiêu chảy, buồn nôn và nôn.
Trong giai đoạn diễn tiến, khi siêu vi gây bệnh xâm nhập hệ thần kinh trung ương, sẽ xuất hiện triệu chứng rối loạn tri giác như lơ mơ, li bì, mê sảng hay co giật.
Trẻ có thể tử vong hoặc hồi phục sau một thời gian điều trị nhưng vẫn còn những rối loạn tâm thần kinh kéo dài.
Bác sĩ chẩn đoán bệnh TCM như thế nào?
Thường thì bác sĩ có thể phân biệt được TCM và tác nhân khác gây đau lỡ miệng là nhờ dựa vào tuổi của bệnh nhân, lời khai của bố mẹ bệnh nhi về các triệu chứng điển hình cùng sự hiện diện của những nốt ban và đau khi thăm khám.
Có thể, bác sĩ sẽ lấy mẫu phết họng hoặc mẫu phân của bệnh nhân gửi đến phòng xét nghiệm để nhằm xác định loại enterovirus nào là tác nhân gây bệnh. Do xét nghiệm thường mất từ 2 đến 4 tuần mới có kết quả trả lời, nên bác sĩ điều trị thường không yêu cầu làm các xét nghiệm.
Bệnh TCM có giống như bệnh Long mồm lở móng ở súc vật?
Hoàn toàn khác nhau và do những virut khác nhau gây ra. Bệnh TCM thường bị hiểu nhầm với bệnh long mồm lở móng gia súc như trâu bò, cừu, heo.
Tác nhân gây bệnh TCM ?
Là virut thuộc nhóm enteroviruses (virut đường ruột). Tác nhân thường là coxsackievirus A16; đôi khi do enterovirus 71 hoặc một loại virut khác trong nhóm enteroviruses
Nhóm virut Đường ruột (enterovirus) gồm: polioviruses, coxsackieviruses, echoviruses và các enteroviruses khác.
Nhóm virut Đường ruột (enterovirus) gồm: polioviruses, coxsackieviruses, echoviruses và các enteroviruses khác.
Bệnh TCM có nghiêm trọng không?
Thường thì không gây bệnh nghiêm trọng.
Bệnh TCM do nhiễm coxsackievirus A16 là một bệnh nhẹ, gần như tất cả bệnh nhân sẽ bình phục sau 7 – 10 ngày mà không cần dùng thuốc điều trị. Thường không gây biến chứng.
Nhiễm coxackiesvirus A16 rất hiếm khi có biến chứng gây viêm màng não do virut (viêm màng não vô khuẩn), ở những bệnh nhân có sốt, nhức đầu, cứng gáy, đau lưng cần phải nhập viện để theo dõi trong vài ngày.
Tác nhân EV71 có thể sẽ gây viêm màng não, nhưng cũng hiếm khi gây bệnh cảnh nặng như viêm não hoặc liệt mềm dạng polio. Viêm não do EV71 gây ra có thể dẫn tới tử vong. Những trường hợp viêm não tử vong đã xảy ra trong các vụ dịch TCM tại Malaysia năm 1997 và Đài loan năm 1998.
Bệnh TCM có lây lan không?
Có, bệnh TCM lây truyền ở mức độ trung bình.
Bệnh lây truyền từ người qua người khác do tiếp xúc trực tiếp với nước mũi, miệng, nước bọt, dịch của mụn dộp hoặc phân của người nhiễm. Trong tuần lễ đầu tiên của bệnh rất dễ lây cho người khác.
TCM không lây cho súc vật và con người không bị nhiễm từ súc vật hay thú nuôi cảnh.
Ai là nhóm nguy cơ bị nhiễm TCM?
Bệnh TCM thường chủ yếu xảy ra ở trẻ em dưới 10 tuổi, nhưng cũng xảy ra cả ở người lớn. Mọi người đều có nguy cơ bị nhiễm, nhưng không phải ai nhiễm cũng phát bệnh.
Trẻ nhỏ, trẻ em, và thiếu niên cảm nhiễm nhiều với virut và dễ phát bệnh, bởi vì chúng có ít kháng thể và miễn dịch kém hơn so với người lớn do không có quá trình phơi nhiễm trước đó.
Sau khi nhiễm sẽ có miễn dịch đặc hiệu đối với virut gây nhiễm, nhưng vẫn có thể nhiễm lần hai với loại virut khác trong cùng nhóm enterovirus.
Nguy cơ gì xảy ra cho phụ nữ có thai khi họ có tiếp xúc với trẻ em đã nhiễm TCM?
Bởi vì nhóm enteroviruses kể cả virut gây bệnh TCM rất thường gặp, do vậy phụ nữ có thai rất dễ bị phơi nhiễm đặc biệt là trong các tháng hè thu.
Cũng giống như người lớn khác, nguy cơ nhiễm cao ở những phụ nữ mang thai nào không có kháng thể có được từ những lần phơi nhiễm trước, và những phụ nữ mang thai có tiếp xúc với trẻ nhỏ là người truyền enterovirus đầu tiên.
Hầu hết phụ nữ nhiễm enterovirus trong thai kỳ thường không phát bệnh hoặc biểu hiện bệnh nhẹ.
Mặc dù thông tin có được hiện nay chưa nhiều và chưa có bằng chứng rõ ràng là nhiễm virut khi mang thai sẽ gây hậu quả như xảy thai, chết sơ sinh hoặc dị tật bẩm sinh.
Tuy nhiên bà mẹ nhiễm có thể truyền virus cho đứa bé ngay trước khi sinh. Đứa trẻ sinh ra từ người mẹ đã có biểu hiện triệu chứng nhiễm enterovirut, trong khi sinh có khả năng rất dễ bị nhiễm bệnh. Hầu hết những trẻ sơ sinh nhiễm enterovirut này có biểu hiện bệnh nhẹ và hiếm khi phát triển thành nhiễm đa phủ tạng: gan, tim và tử vong vì nhiễm vi rut.
Nguy cơ cao xảy ra bệnh cảnh nặng cho trẻ sơ sinh vào 2 tuần lễ đầu đời.
Thực hiện vệ sinh sạch sẽ cho người phụ nữ có thai sẽ có thể giúp giảm nguy cơ nhiễm khi đang mang thai và nhiễm trong khi sinh.
Bệnh TCM thường xảy ra ở đâu?
Các ca bệnh đơn lẻ và dịch TCM xảy ra trên khắp nơi trên thế giới với tần suất bệnh cao trong mùa hè và đầu mùa thu.
Thời gian gần đây các vụ dịch TCM chủ yếu do enterovirus 71 gây ra đã được báo cáo xảy ra tại các quốc gia thuộc Đông Nam Á (Malaysia, 1997; Đài loan 1998).
Điều trị như thế nào?
Chưa có điều trị đặc hiệu cho virut này và các loại enterovirus khác. Điều trị triệu chứng để giảm sốt, đau nhức do các vết loét gây ra, kết hợp với tăng sức đề kháng.
Chưa có điều trị đặc hiệu cho virut này và các loại enterovirus khác. Điều trị triệu chứng để giảm sốt, đau nhức do các vết loét gây ra, kết hợp với tăng sức đề kháng.
Để giảm nguy cơ nhiễm trùng da niêm cần phải vệ sinh thân thể: cho trẻ súc miệng mỗi ngày, chăm sóc da bằng cách tắm nước ấm, lau rửa nhẹ nhàng, tránh làm vỡ bóng nước hay trầy xước da, thay quần áo sạch hàng ngày. Cắt ngắn móng tay để giảm tổn thương da do gãi ngứa.
Cho ăn uống đầy đủ dưỡng chất và nhu cầu, cho trẻ uống nhiều nước như nước sôi để nguội, nước trái cây, nước canh, nước cháo…
Lưu ý, trẻ bị TCM không cần kiêng cữ gió và ánh sáng, không chọc vỡ bóng nước, không đắp lá cây vì sẽ gây nhiễm trùng da. Theo dõi diễn biến các tổn thương da niêm và tình trạng chung của trẻ. Cần đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế khi có những dấu hiệu bệnh nặng hơn như sốt cao, rối loạn tri giác, co giật, bóng nước có mủ, máu.
Có thể phòng bệnh được không?
Chưa có các biện pháp phòng bệnh đặc hiệu cho nhiễm TCM và các loại Non-polio enterovirus, nhưng có thể làm giảm nguy cơ nhiễm bằng thực hành vệ sinh tốt.
Các biện pháp phòng bệnh là rửa tay thường xuyên, đặc biệt là sau khi thay tã, làm sạch bề mặt và các dụng cụ đã bị vấy nhiễm trước tiên bằng nước và xà phòng ,rồi sau đó là khử trùng bằng dung dịch chứa clo như chloramine.
Những người chăm sóc trẻ có thể giảm nguy cơ bị lây nhiễm khi chăm sóc trẻ bệnh TCM nếu tránh tiếp xúc gần gũi với trẻ bị bệnh TCMA (hôn, ôm, dùng chung thức ăn, chén bát…)
Phòng bệnh TCM cho trẻ ở nhà trẻ như thế nào?
Dịch TCM xảy ra ở các nhà trẻ thường vào các tháng hè thu, và luôn cùng lúc với sự gia tăng sốca bệnh tại cộng đồng.
CDC không có khuyến cáo đặc biệt nào về việc cách ly cho nghỉ học các trẻ bệnh TCM trong các chương trình chăm sóc trẻ em, trường học hoặc các nhóm trẻ.
Nếu cách ly trẻ bệnh TCM với nhóm trẻ trong những ngày đầu của bệnh thì có thể làm giảm sự lây nhiễm, tuy nhiên không ngăn chặn hoàn toàn được dịch. Có thể có làm giảm phơi nhiễm cho trẻ em khác nếu cách ly những trẻ có mụn dộp trong miệng, chảy nước mũi, lòng bàn chân, bàn tay có mụn dộp vỡ.
Cách ly người bệnh có thể không ngăn được sự xuất hiện thêm các ca bệnh vì virus có thể đã bài tiết ra từ vài tuần trước khi xuất hiện triệu chứng. Một số người (mà đa số là người lớn) bài tiết virus nhưng không có biểu hiện triệu chứng của bệnh.
Nếu dịch xảy ra tại nhà trẻ:
- Bảo đảm tất cả các trẻ em người lớn phải rửa tay sạch và thường xuyên, nhất là sau khi thay tã cho trẻ. Hình ảnh bóng nước nổi trên vùng đầu gối của trẻ bị bệnh tay chân miệng
- Rửa thật kỹ, rồi khử trùng các dụng cụ và bề mặt với dung dịch chloramines, thuốc tẩy.
Vietnamnet (Theo tài liệu của CDC/Viện Pasteur TP.HCM và tư liệu của BS CKII. Nguyễn Thị Kim Thoa - Trưởng khoa Nội tổng quát 1, BV Nhi đồng 1)
Thứ Hai, 30 tháng 9, 2013
10:34
Unknown
Theo nhận xét của giới chuyên môn, từ tháng 1 đến tháng 5 hằng năm là mùa của thủy đậu, căn bệnh gây nhiều khó chịu và những biến chứng nguy hiểm ít ai ngờ tới. Mặc dù đây là bệnh “khá quen” đối với nhiều người, nhưng những hiểu biết sai về bệnh vẫn còn phổ biến
1. Thủy đậu là bệnh nhẹ. SAI
Bệnh thường diễn tiến nhẹ, nhưng đây không phải là bệnh lành tính mà có thể gây những biến chứng nguy hiểm từ nhiễm trùng nốt rạ, nhiễm trùng huyết đến những tác hại về thần kinh như viêm não, viêm màng não, viêm phổi dẫn đến tử vong. Biến chứng phổ biến nhất ở trẻ em là nhiễm trùng da và mô mềm để lại sẹo vĩnh viễn trên da.
2. Bệnh chỉ xảy ra cho trẻ em. SAI
Bệnh thường xảy ra ở trẻ em, từ 5 đến 11 tuổi, nhưng thanh thiếu niên và người lớn cũng có thể nhiễm bệnh nếu họ chưa từng mắc bệnh này hoặc chưa tiêm ngừa.
3. Mắc bệnh này thì cần kiêng gió, kiêng nước. SAI
Quan niệm này rất phổ biến trong dân gian, nhưng hoàn toàn sai. Do đặc trưng của bệnh là phát ban kiểu bóng nước ở da và niêm mạc, nên càng kiêng gió, kiêng nước thì càng dễ dẫn đến nhiễm trùng da. Trong một nghiên cứu ở Đài Loan, 44,1% bệnh nhân bị biến chứng nhiễm trùng da và mô mềm.
4. Phụ nữ mang thai mà bị bệnh thủy đậu thì chẳng hề gì. SAI
Thai phụ mắc bệnh thủy đậu có nhiều nguy cơ dẫn đến hội chứng thủy đậu bẩm sinh với tỉ lệ chung là 1% ở phụ nữ nhiễm bệnh trong 20 tuần đầu tiên của thai kỳ, trong đó 0,4% nguy cơ từ 0-12 tuần và 2% từ tuần 13-20. Hội chứng thủy đậu bẩm sinh bao gồm trẻ sinh ra bị nhẹ cân, sẹo da, loạn sản chi, đầu nhỏ, viêm hắc - võng mạc mắt, đục thủy tinh thể...
5. Như thế chỉ cần tiêm ngừa thủy đậu cho phụ nữ độ tuổi mang thai. SAI
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo tiêm ngừa thủy đậu cho mọi người lớn và thanh thiếu niên chưa từng mắc bệnh. Một nghiên cứu tại Singapore vào năm 1994-1995 cho thấy chỉ cần tốn 3,3 triệu USD tiêm ngừa thủy đậu sẽ tiết kiệm được 11,8 triệu USD chi phí hậu quả do bệnh này gây ra.
10:32
Unknown
Những ngày qua, hơn 70 học sinh ở một số trường tiểu học, trung học cơ sở tại các quận, huyện ở TP.HCM đã bị các triệu chứng của bệnh rubella tấn công. Bệnh rubella có gây nguy hiểm cho trẻ hay bà mẹ mang thai? Bác sĩ Trương Hữu Khanh - Trưởng khoa Nhiễm - thần kinh (Bệnh viện Nhi đồng 1, TP.HCM) cho biết:
- Không chỉ ở trẻ em, bệnh rubella còn xảy ra ở nhiều lứa tuổi, người lớn cũng có thể mắc bệnh. Bệnh có thể xảy ra ở những người chưa mắc rubella lần nào, hoặc chưa từng được chủng ngừa trước đó. Rubella xảy ra rải rác quanh năm, nhưng có năm cũng xảy ra theo mùa (thường bệnh xảy ra nhiều vào khoảng từ tháng 2 đến tháng 6). Những nơi đông người như trường học, công ty, xí nghiệp, khu nhà trọ là môi trường dễ làm lây nhiễm bệnh rất nhanh, bởi rubella lây qua đường hô hấp.
* Triệu chứng bệnh như thế nào?
- Trẻ mắc bệnh rubella thường có những biểu hiện như: mệt mỏi, đau nhức cơ thể, sốt, ho... sau cùng là nổi ban (ban có màu hồng, hình tròn hoặc hình răng cưa), nổi hạch sau tai cùng lúc phát ban. Thiếu niên và người lớn mắc bệnh thì thường nặng hơn trẻ nhỏ, có kèm theo sốt cao. Thời gian ủ bệnh của rubella từ 10 - 14 ngày, sau khi nổi ban khoảng vài ngày thì hết.
* Bệnh có để lại di chứng gì không?
- Nếu trẻ mắc bệnh nên cho trẻ nghỉ ngơi, uống nhiều nước, hạn chế vận động để tránh biến chứng (viêm phổi), không cần nhập viện. Cần cách ly không cho trẻ mắc bệnh đến lớp, không cho công nhân có bệnh đến sở làm, xử lý môi trường nơi xảy ra bệnh để tránh lây lan bệnh.
Những nốt ban do bệnh rubella sau khi lặn đi không để lại sẹo. Bệnh không nguy hiểm đối với trẻ nhỏ, nhưng lại rất nguy hiểm đối với phụ nữ mang thai 3 tháng đầu thai kỳ. Nếu mắc bệnh rubella ở thời điểm này có thể làm sẩy thai, hoặc trẻ sinh ra có thể mắc rubella bẩm sinh, bị dị dạng (đầu nhỏ, bại não, tim bẩm sinh, đục thủy tinh thể...). Phòng bệnh bằng cách tiêm ngừa cho trẻ ở thời điểm từ 12 - 18 tháng tuổi, khi trẻ 5 - 6 tuổi tiêm nhắc lại một mũi nữa. Nếu trẻ lớn trên 5 tuổi thì chỉ tiêm một mũi. Ngoài ra, phụ nữ ở tuổi sinh đẻ cần tiêm ngừa trước khi mang thai.
Thứ Bảy, 28 tháng 9, 2013
09:48
Unknown
PHÒNG CHỐNG VIÊM GAN VI RÚT Ở TRẺ EMBS. QUANG MINH
Viêm gan vi rút (VGVR) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính thường gặp, là một trong nhiều loại viêm gan. Nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới cho biết, đến nay đã phát hiện được 6 loại vi rút gây viêm gan khác nhau, được ký hiệu bằng các chữ A, B, C, D, E, G. Gần đây nhất đã phát hiện được vi rút gây viêm gan mới được gọi là TT, VRVG A và B là 2 loại VRVG đã được phát hiện từ Đại chiến thế giới lần thứ 2 và đã có vắc xin để phòng bệnh. VRVG A và E lây truyền qua đường tiêu hóa; qua nước bọt, dùng chung dụng cụ ăn uống. Các loại vi rút gây viêm gan khác lây truyền qua đường máu như: tiêm chích, truyền máu, châm cứu... Mẹ mang thai có thể lây truyền sang cho con trong thời kỳ chu sinh cũng là một đường lây truyền quan trọng.
VRVG có thể gây nhiều tai biến nghiêm trọng như: teo gan vàng cấp, hôn mê... dẫn đến tử vong nhanh chóng. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học: 25% bệnh nhân VGVR B và 75% bệnh nhân VGVR C có thể chuyển sang viêm gan mãn. Tỷ lệ tử vong do VGVR cũng khác nhau: VGVR B và VGVR C chỉ gây tử vong 1-4% ngay trong giai đoạn cấp. Nguy hiểm hơn, VGVR có thể gây xơ gan, ung thư gan.
Các dấu hiệu VGVR: khi các cháu có các dấu hiệu như mệt mỏi, chán ăn, sốt, vàng da, vàng mắt, đái nước tiểu có màu vàng, vàng mắt, đau tức hạ sườn bên phải... đặc biệt là các dấu hiệu trên xuất hiện khi bệnh nhi vừa được tiêm chích, châm cứu, truyền máu, nhổ răng...hay trong gia đình, nhà trẻ mẫu giáo có trẻ mắc bệnh VGVR mà có các triệu chứng trên, cần cho trẻ đi khám bệnh và điều trị sớm. Thể bệnh nặng có thể gây sốt cao, mê sảng, co giật, hôn mê.
Vài nét về điều trị VGVR: VGVR cần được điều trị sớm. điều trị tích cực: cho đến nay, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu đối với vi rút gây viêm gan. Chủ yếu là điều trị triệu chứng như thuốc nhuận gan mật, nâng cao thể trạng cho người bệnh... Một số thuốc diệt vi rút và Alpha-Intecpheron đã được áp dụng vào điều trị VRVG A và VRVG B nhưng giá thành còn rất đắt và hiệu quả còn hạn chế.
Chữa bệnh viêm gan vi rút bằng thuốc nam như thế nào? Nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy nhiều loại dược thảo có tác dụng diệt được vi rút như chè tươi, dấp cá, hành... Nhiều bài thuốc Đông y có tác dụng chữa bệnh VGVR đã được áp dụng trong nhân dân và các bệnh viện trong cả nước.
Bài 1: Hạt Dành dành (Chi tử), nhân trần mỗi thứ 6-12g, sắc uống hàng ngày.
Bài 2: Diệp hạ châu (Kiềm vườn, cây chó đẻ răng cưa), rau má mỗi thứ một nắm nhỏ, sắc uống hàng ngày. Cây chó đẻ răng cưa là một cây thuốc qúi cũng được áp dụng trong nhân dân, có hiệu quả tốt trong điều trị. Bố mẹ trẻ có thể tự thu hái để điều trị cho con trẻ. Cây Diệp hạ châu mọc hoang ở nhiều nơi trong cả nước. Có thể dùng cây tươi hoặc cây khô, dùng thân, lá, bỏ rễ. Liều dùng 30-50g tươi ngày. Cây thuốc này có thể áp dụng điều trị cho VGVR cấp và viêm gan mãn, thậm chí còn có thể điều trị cho cả bệnh nhi bị xơ gan.
Bài 3: Nhân trần cao thang hợp phương: Nhân trần, chi tử (hạt Dành dành), Phục linh, Trư linh, Hoàng bá, Bạch truật, Đảng sâm, Hậu phác, mỗi thứ 12g; Trạch tả, Sa tiền, Cam thảo mỗi thứ 6g... Sắc uống ngày 1 thang, có tác dụng cải thiện chức năng gan, nâng đỡ thể trạng, kích thích tiêu hóa, hạ sốt, giảm vàng da, vàng mắt.
Dự phòng bệnh viêm gan vi rút? bố mẹ trẻ cần biết:
- Tiêm vắc xin phòng VGVR cho trẻ và cho mẹ khi mang thai là việc cần thiết. Hiện nay mới chỉ có vắc xin VGVR A và B. Những trẻ được sinh ra do mẹ có phản ứng huyết thanh với VGVR B được khuyên nên tiêm vắc xin sớm.
- Tiêm vắc xin phòng VGVR cho trẻ và cho mẹ khi mang thai là việc cần thiết. Hiện nay mới chỉ có vắc xin VGVR A và B. Những trẻ được sinh ra do mẹ có phản ứng huyết thanh với VGVR B được khuyên nên tiêm vắc xin sớm.
- Trong gia đình có người VGVR A hoặc E cần cho ăn uống bằng bát đũa, dụng cụ ăn uống riêng.
- Có thể yêu cầu thầy thuốc tiêm Hunman gamma globulin 16% với liều 0,02 ml/kg cân nặng để dự phòng nhiễm vi rút viêm gan nếu có tiếp xúc với bệnh nhi hoặc khi đang có dịch VGVR A tại địa phương. Trẻ có nguy cơ nhiễm bệnh thường xuyên nên tiêm nhắc lại mỗi 4-6 tháng một lần.
- Cho trẻ ăn đủ chất, chống suy dinh dưỡng, ăn tăng rau xanh hoa quả tươi, hạn chế các đồ ăn chiên, rán gây khó tiêu... để nâng cao thể trạng và sức đề kháng cho trẻ.
Viện Thông tin thư viện y học Trung Ương.
09:46
Unknown
Mùa mưa đã đến, những cơn mưa làm cho khí hậu bớt nóng khiến mọi người cảm thấy dễ chịu hơn. Tuy nhiên mùa mưa cũng là điều kiện thuận lợi cho muỗi sinh sôi và phát triển, do đó bệnh sốt xuất huyết cũng theo đó mà bùng phát nhiều hơn.
Bệnh sốt xuất huyết là gì? Đó là một bệnh nhiễm trùng do virus Dengue gây ra. Nó gây ra sốt, xuất huyết, truỵ tim mạch và có thể tử vong nếu không xử trí kịp thời và đúng đắn.
Bệnh sốt xuất huyết được lây truyền từ người bệnh sang người lành bởi con muỗi vằn Aedes aegypty. Muỗi thường sống xung quanh nhà. Muỗi cái thường hút máu người bệnh vào ban ngày và chích vào người lành làm lây lan bệnh.
Bệnh thường xảy ra ở trẻ em, nhất là từ 2 – 9 tuổi. Tuy nhiên ngày nay cũng thường thấy bệnh xảy ra ở cả người lớn nữa!
Các dấu hiệu nhận biết bệnh sốt xuất huyết:
- Sốt cao đột ngột kèm theo đau nhức mình mẩy, nhức đầu, đau khớp, chán ăn, ói mửa, đau họng.
- Đau bụng vùng thượng vị (vùng bụng ở ngay dưới mũi xương ức), hoặc đau vùng dưới bờ sườn bên phải. Nếu sờ dưới bờ sườn phải có thể thấy gan to.
- Có thể kèm theo co giật khi sốt cao.
- Nổi các nốt xuất huyết dưới da, là các điểm xuất huyết li ti. Nếu dùng dây garot thắt cánh tay khoảng 5 – 10 phút thì sẽ thấy xuất hiện các nốt xuất huyết rất nhiều, có khi tạo thành mảng.
- Nếu bệnh nặng có thể xuất huyết đường tiêu hoá gây ói ra máu, tiêu ra máu.
- Nặng hơn nữa thì xuất huyết não, màng não dễ bị tử vong.
- Trạng thái sốc: thường rơi vào ngày sốt thứ 3 – 5. Bệnh nhân bứt rứt, lừ đừ, tay chân lạnh, tím tái, thở nhanh, mạch yếu có khi không bắt được, huyết áp hạ không đo được, huyết áp kẹp (là trị số giữa huyết áp tối đa và tối thiểu < 20mmHg).
Xử trí:
Khi có các dấu hiệu kể trên (chỉ cần thấy sốt cao và có nốt xuất huyết dưới da, xuất huyết niêm mạc), nên đem bệnh nhân đến cơ sở y tế để khám và điều trị.
Bác sĩ sẽ cho xét nghiệm máu thêm, thấy tiểu cầu giảm <100.000/mm3, dung tích hồng cầu (Hct) tăng nhiều do máu bị cô đặc.
Trong khi chờ đợi đi khám bệnh, cho bệnh nhân uống thật nhiều nước. Uống dung dịch ORS (bán nhiều ở các nhà thuốc tây) 1gói pha với 1 lít nước sạch, uống kèm theo nước trái cây, nước dừa...
Bệnh nhân sốt cao có thể uống thuốc hạ nhiệt như Paracetamol nhưng chú ý không được dùng Aspyrine vì sẽ gây xuất huyết nặng hơn và dễ gây sốc.
Sốt xuất huyết nặng sẽ được điều trị ở bệnh viện và cho truyền dịch hoặc truyền máu để bù khối lượng tuần hoàn.
Sốt xuất huyết nhẹ sẽ được điều trị ngoại trú và cần nhập viện ngay nếu thấy bệnh nhân li bì, bứt rứt, đau bụng nhiều, nôn ói, tay chân lạnh, tiểu ít, nhiệt độ giảm đột ngột.
Đề phòng:
Hiện nay chưa có thuốc chủng ngừa và chưa có thuốc điều trị đặc hiệu đối với bệnh sốt xuất huyết. Do đó, phòng bệnh vẫn là biện pháp chính để không bị sốt xuất huyết bằng cách:
- Vệ sinh ngoại cảnh: dọn dẹp bùn lầy, nước đọng, phát quang xung quanh nhà, thu dẹp các vật có nước đọng có thể làm nơi cho muỗi đẻ.
- Nuôi cá bảy màu ăn lăng quăng ở các bể chứa nước; các lu nước nên đậy nắp kín.
- Nhà cửa phải sáng sủa, thông thoáng, không treo nhiều quần áo trên vách nhà.
- Nên dùng cửa lưới để ngăn muỗi
- Dùng thuốc xịt muỗi để giết muỗi
- Ngủ mùng, thoa thuốc chống muỗi, đốt nhang đuổi muỗi.
Tóm lại sốt xuất huyết là một bệnh nguy hiểm và phổ biến lại chưa có thuốc chữa và thuốc ngừa. Vì vậy diệt muỗi và không để muỗi chích là biện pháp hữu hiệu nhất để tránh bệnh sốt xuất huyết.
BS NGUYỄN ĐÌNH SANG
Tuổi Trẻ
Tuổi Trẻ
Thứ Sáu, 27 tháng 9, 2013
10:28
Unknown
Theo nhận xét của giới chuyên môn, từ tháng 1 đến tháng 5 hằng năm là mùa của thủy đậu, căn bệnh gây nhiều khó chịu và những biến chứng nguy hiểm ít ai ngờ tới. Mặc dù đây là bệnh “khá quen” đối với nhiều người, nhưng những hiểu biết sai về bệnh vẫn còn phổ biến
1. Thủy đậu là bệnh nhẹ. SAI
Bệnh thường diễn tiến nhẹ, nhưng đây không phải là bệnh lành tính mà có thể gây những biến chứng nguy hiểm từ nhiễm trùng nốt rạ, nhiễm trùng huyết đến những tác hại về thần kinh như viêm não, viêm màng não, viêm phổi dẫn đến tử vong. Biến chứng phổ biến nhất ở trẻ em là nhiễm trùng da và mô mềm để lại sẹo vĩnh viễn trên da.
2. Bệnh chỉ xảy ra cho trẻ em. SAI
Bệnh thường xảy ra ở trẻ em, từ 5 đến 11 tuổi, nhưng thanh thiếu niên và người lớn cũng có thể nhiễm bệnh nếu họ chưa từng mắc bệnh này hoặc chưa tiêm ngừa.
3. Mắc bệnh này thì cần kiêng gió, kiêng nước. SAI
Quan niệm này rất phổ biến trong dân gian, nhưng hoàn toàn sai. Do đặc trưng của bệnh là phát ban kiểu bóng nước ở da và niêm mạc, nên càng kiêng gió, kiêng nước thì càng dễ dẫn đến nhiễm trùng da. Trong một nghiên cứu ở Đài Loan, 44,1% bệnh nhân bị biến chứng nhiễm trùng da và mô mềm.
4. Phụ nữ mang thai mà bị bệnh thủy đậu thì chẳng hề gì. SAI
Thai phụ mắc bệnh thủy đậu có nhiều nguy cơ dẫn đến hội chứng thủy đậu bẩm sinh với tỉ lệ chung là 1% ở phụ nữ nhiễm bệnh trong 20 tuần đầu tiên của thai kỳ, trong đó 0,4% nguy cơ từ 0-12 tuần và 2% từ tuần 13-20. Hội chứng thủy đậu bẩm sinh bao gồm trẻ sinh ra bị nhẹ cân, sẹo da, loạn sản chi, đầu nhỏ, viêm hắc - võng mạc mắt, đục thủy tinh thể...
5. Như thế chỉ cần tiêm ngừa thủy đậu cho phụ nữ độ tuổi mang thai. SAI
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo tiêm ngừa thủy đậu cho mọi người lớn và thanh thiếu niên chưa từng mắc bệnh. Một nghiên cứu tại Singapore vào năm 1994-1995 cho thấy chỉ cần tốn 3,3 triệu USD tiêm ngừa thủy đậu sẽ tiết kiệm được 11,8 triệu USD chi phí hậu quả do bệnh này gây ra.
10:26
Unknown
PHÒNG CHỐNG VIÊM GAN VI RÚT Ở TRẺ EMBS. QUANG MINH
Viêm gan vi rút (VGVR) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính thường gặp, là một trong nhiều loại viêm gan. Nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới cho biết, đến nay đã phát hiện được 6 loại vi rút gây viêm gan khác nhau, được ký hiệu bằng các chữ A, B, C, D, E, G. Gần đây nhất đã phát hiện được vi rút gây viêm gan mới được gọi là TT,
VRVG A và B là 2 loại VRVG đã được phát hiện từ Đại chiến thế giới lần thứ 2 và đã có vắc xin để phòng bệnh. VRVG A và E lây truyền qua đường tiêu hóa; qua nước bọt, dùng chung dụng cụ ăn uống. Các loại vi rút gây viêm gan khác lây truyền qua đường máu như: tiêm chích, truyền máu, châm cứu... Mẹ mang thai có thể lây truyền sang cho con trong thời kỳ chu sinh cũng là một đường lây truyền quan trọng.
VRVG có thể gây nhiều tai biến nghiêm trọng như: teo gan vàng cấp, hôn mê... dẫn đến tử vong nhanh chóng. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học: 25% bệnh nhân VGVR B và 75% bệnh nhân VGVR C có thể chuyển sang viêm gan mãn. Tỷ lệ tử vong do VGVR cũng khác nhau: VGVR B và VGVR C chỉ gây tử vong 1-4% ngay trong giai đoạn cấp. Nguy hiểm hơn, VGVR có thể gây xơ gan, ung thư gan.
Các dấu hiệu VGVR: khi các cháu có các dấu hiệu như mệt mỏi, chán ăn, sốt, vàng da, vàng mắt, đái nước tiểu có màu vàng, vàng mắt, đau tức hạ sườn bên phải... đặc biệt là các dấu hiệu trên xuất hiện khi bệnh nhi vừa được tiêm chích, châm cứu, truyền máu, nhổ răng...hay trong gia đình, nhà trẻ mẫu giáo có trẻ mắc bệnh VGVR mà có các triệu chứng trên, cần cho trẻ đi khám bệnh và điều trị sớm. Thể bệnh nặng có thể gây sốt cao, mê sảng, co giật, hôn mê.
Vài nét về điều trị VGVR: VGVR cần được điều trị sớm. điều trị tích cực: cho đến nay, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu đối với vi rút gây viêm gan. Chủ yếu là điều trị triệu chứng như thuốc nhuận gan mật, nâng cao thể trạng cho người bệnh... Một số thuốc diệt vi rút và Alpha-Intecpheron đã được áp dụng vào điều trị VRVG A và VRVG B nhưng giá thành còn rất đắt và hiệu quả còn hạn chế.
Chữa bệnh viêm gan vi rút bằng thuốc nam như thế nào? Nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy nhiều loại dược thảo có tác dụng diệt được vi rút như chè tươi, dấp cá, hành... Nhiều bài thuốc Đông y có tác dụng chữa bệnh VGVR đã được áp dụng trong nhân dân và các bệnh viện trong cả nước.
Bài 1: Hạt Dành dành (Chi tử), nhân trần mỗi thứ 6-12g, sắc uống hàng ngày.
Bài 2: Diệp hạ châu (Kiềm vườn, cây chó đẻ răng cưa), rau má mỗi thứ một nắm nhỏ, sắc uống hàng ngày. Cây chó đẻ răng cưa là một cây thuốc qúi cũng được áp dụng trong nhân dân, có hiệu quả tốt trong điều trị. Bố mẹ trẻ có thể tự thu hái để điều trị cho con trẻ. Cây Diệp hạ châu mọc hoang ở nhiều nơi trong cả nước. Có thể dùng cây tươi hoặc cây khô, dùng thân, lá, bỏ rễ. Liều dùng 30-50g tươi ngày. Cây thuốc này có thể áp dụng điều trị cho VGVR cấp và viêm gan mãn, thậm chí còn có thể điều trị cho cả bệnh nhi bị xơ gan.
Bài 3: Nhân trần cao thang hợp phương: Nhân trần, chi tử (hạt Dành dành), Phục linh, Trư linh, Hoàng bá, Bạch truật, Đảng sâm, Hậu phác, mỗi thứ 12g; Trạch tả, Sa tiền, Cam thảo mỗi thứ 6g... Sắc uống ngày 1 thang, có tác dụng cải thiện chức năng gan, nâng đỡ thể trạng, kích thích tiêu hóa, hạ sốt, giảm vàng da, vàng mắt.
Dự phòng bệnh viêm gan vi rút? bố mẹ trẻ cần biết:
- Tiêm vắc xin phòng VGVR cho trẻ và cho mẹ khi mang thai là việc cần thiết. Hiện nay mới chỉ có vắc xin VGVR A và B. Những trẻ được sinh ra do mẹ có phản ứng huyết thanh với VGVR B được khuyên nên tiêm vắc xin sớm.
- Tiêm vắc xin phòng VGVR cho trẻ và cho mẹ khi mang thai là việc cần thiết. Hiện nay mới chỉ có vắc xin VGVR A và B. Những trẻ được sinh ra do mẹ có phản ứng huyết thanh với VGVR B được khuyên nên tiêm vắc xin sớm.
- Trong gia đình có người VGVR A hoặc E cần cho ăn uống bằng bát đũa, dụng cụ ăn uống riêng.
- Có thể yêu cầu thầy thuốc tiêm Hunman gamma globulin 16% với liều 0,02 ml/kg cân nặng để dự phòng nhiễm vi rút viêm gan nếu có tiếp xúc với bệnh nhi hoặc khi đang có dịch VGVR A tại địa phương. Trẻ có nguy cơ nhiễm bệnh thường xuyên nên tiêm nhắc lại mỗi 4-6 tháng một lần.
- Cho trẻ ăn đủ chất, chống suy dinh dưỡng, ăn tăng rau xanh hoa quả tươi, hạn chế các đồ ăn chiên, rán gây khó tiêu... để nâng cao thể trạng và sức đề kháng cho trẻ.
Viện Thông tin thư viện y học Trung Ương.
Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013
17:41
Unknown
Mùa mưa đã đến, những cơn mưa làm cho khí hậu bớt nóng khiến mọi người cảm thấy dễ chịu hơn. Tuy nhiên mùa mưa cũng là điều kiện thuận lợi cho muỗi sinh sôi và phát triển, do đó bệnh sốt xuất huyết cũng theo đó mà bùng phát nhiều hơn.
Bệnh sốt xuất huyết là gì? Đó là một bệnh nhiễm trùng do virus Dengue gây ra. Nó gây ra sốt, xuất huyết, truỵ tim mạch và có thể tử vong nếu không xử trí kịp thời và đúng đắn.
Bệnh sốt xuất huyết được lây truyền từ người bệnh sang người lành bởi con muỗi vằn Aedes aegypty. Muỗi thường sống xung quanh nhà. Muỗi cái thường hút máu người bệnh vào ban ngày và chích vào người lành làm lây lan bệnh.
Bệnh thường xảy ra ở trẻ em, nhất là từ 2 – 9 tuổi. Tuy nhiên ngày nay cũng thường thấy bệnh xảy ra ở cả người lớn nữa!
Các dấu hiệu nhận biết bệnh sốt xuất huyết:
- Sốt cao đột ngột kèm theo đau nhức mình mẩy, nhức đầu, đau khớp, chán ăn, ói mửa, đau họng.
- Đau bụng vùng thượng vị (vùng bụng ở ngay dưới mũi xương ức), hoặc đau vùng dưới bờ sườn bên phải. Nếu sờ dưới bờ sườn phải có thể thấy gan to.
- Có thể kèm theo co giật khi sốt cao.
- Nổi các nốt xuất huyết dưới da, là các điểm xuất huyết li ti. Nếu dùng dây garot thắt cánh tay khoảng 5 – 10 phút thì sẽ thấy xuất hiện các nốt xuất huyết rất nhiều, có khi tạo thành mảng.
- Nếu bệnh nặng có thể xuất huyết đường tiêu hoá gây ói ra máu, tiêu ra máu.
- Nặng hơn nữa thì xuất huyết não, màng não dễ bị tử vong.
- Trạng thái sốc: thường rơi vào ngày sốt thứ 3 – 5. Bệnh nhân bứt rứt, lừ đừ, tay chân lạnh, tím tái, thở nhanh, mạch yếu có khi không bắt được, huyết áp hạ không đo được, huyết áp kẹp (là trị số giữa huyết áp tối đa và tối thiểu < 20mmHg).
Xử trí:
Khi có các dấu hiệu kể trên (chỉ cần thấy sốt cao và có nốt xuất huyết dưới da, xuất huyết niêm mạc), nên đem bệnh nhân đến cơ sở y tế để khám và điều trị.
Bác sĩ sẽ cho xét nghiệm máu thêm, thấy tiểu cầu giảm <100.000/mm3, dung tích hồng cầu (Hct) tăng nhiều do máu bị cô đặc.
Trong khi chờ đợi đi khám bệnh, cho bệnh nhân uống thật nhiều nước. Uống dung dịch ORS (bán nhiều ở các nhà thuốc tây) 1gói pha với 1 lít nước sạch, uống kèm theo nước trái cây, nước dừa...
Bệnh nhân sốt cao có thể uống thuốc hạ nhiệt như Paracetamol nhưng chú ý không được dùng Aspyrine vì sẽ gây xuất huyết nặng hơn và dễ gây sốc.
Sốt xuất huyết nặng sẽ được điều trị ở bệnh viện và cho truyền dịch hoặc truyền máu để bù khối lượng tuần hoàn.
Sốt xuất huyết nhẹ sẽ được điều trị ngoại trú và cần nhập viện ngay nếu thấy bệnh nhân li bì, bứt rứt, đau bụng nhiều, nôn ói, tay chân lạnh, tiểu ít, nhiệt độ giảm đột ngột.
Đề phòng:
Hiện nay chưa có thuốc chủng ngừa và chưa có thuốc điều trị đặc hiệu đối với bệnh sốt xuất huyết. Do đó, phòng bệnh vẫn là biện pháp chính để không bị sốt xuất huyết bằng cách:
- Vệ sinh ngoại cảnh: dọn dẹp bùn lầy, nước đọng, phát quang xung quanh nhà, thu dẹp các vật có nước đọng có thể làm nơi cho muỗi đẻ.
- Nuôi cá bảy màu ăn lăng quăng ở các bể chứa nước; các lu nước nên đậy nắp kín.
- Nhà cửa phải sáng sủa, thông thoáng, không treo nhiều quần áo trên vách nhà.
- Nên dùng cửa lưới để ngăn muỗi
- Dùng thuốc xịt muỗi để giết muỗi
- Ngủ mùng, thoa thuốc chống muỗi, đốt nhang đuổi muỗi.
Tóm lại sốt xuất huyết là một bệnh nguy hiểm và phổ biến lại chưa có thuốc chữa và thuốc ngừa. Vì vậy diệt muỗi và không để muỗi chích là biện pháp hữu hiệu nhất để tránh bệnh sốt xuất huyết.
BS NGUYỄN ĐÌNH SANG
Tuổi Trẻ |
17:40
Unknown
Mùa mưa đã đến, những cơn mưa làm cho khí hậu bớt nóng khiến mọi người cảm thấy dễ chịu hơn. Tuy nhiên mùa mưa cũng là điều kiện thuận lợi cho muỗi sinh sôi và phát triển, do đó bệnh sốt xuất huyết cũng theo đó mà bùng phát nhiều hơn.
Bệnh sốt xuất huyết là gì? Đó là một bệnh nhiễm trùng do virus Dengue gây ra. Nó gây ra sốt, xuất huyết, truỵ tim mạch và có thể tử vong nếu không xử trí kịp thời và đúng đắn.
Bệnh sốt xuất huyết được lây truyền từ người bệnh sang người lành bởi con muỗi vằn Aedes aegypty. Muỗi thường sống xung quanh nhà. Muỗi cái thường hút máu người bệnh vào ban ngày và chích vào người lành làm lây lan bệnh.
Bệnh thường xảy ra ở trẻ em, nhất là từ 2 – 9 tuổi. Tuy nhiên ngày nay cũng thường thấy bệnh xảy ra ở cả người lớn nữa!
Các dấu hiệu nhận biết bệnh sốt xuất huyết:
- Sốt cao đột ngột kèm theo đau nhức mình mẩy, nhức đầu, đau khớp, chán ăn, ói mửa, đau họng.
- Đau bụng vùng thượng vị (vùng bụng ở ngay dưới mũi xương ức), hoặc đau vùng dưới bờ sườn bên phải. Nếu sờ dưới bờ sườn phải có thể thấy gan to.
- Có thể kèm theo co giật khi sốt cao.
- Nổi các nốt xuất huyết dưới da, là các điểm xuất huyết li ti. Nếu dùng dây garot thắt cánh tay khoảng 5 – 10 phút thì sẽ thấy xuất hiện các nốt xuất huyết rất nhiều, có khi tạo thành mảng.
- Nếu bệnh nặng có thể xuất huyết đường tiêu hoá gây ói ra máu, tiêu ra máu.
- Nặng hơn nữa thì xuất huyết não, màng não dễ bị tử vong.
- Trạng thái sốc: thường rơi vào ngày sốt thứ 3 – 5. Bệnh nhân bứt rứt, lừ đừ, tay chân lạnh, tím tái, thở nhanh, mạch yếu có khi không bắt được, huyết áp hạ không đo được, huyết áp kẹp (là trị số giữa huyết áp tối đa và tối thiểu < 20mmHg).
Xử trí:
Khi có các dấu hiệu kể trên (chỉ cần thấy sốt cao và có nốt xuất huyết dưới da, xuất huyết niêm mạc), nên đem bệnh nhân đến cơ sở y tế để khám và điều trị.
Bác sĩ sẽ cho xét nghiệm máu thêm, thấy tiểu cầu giảm <100.000/mm3, dung tích hồng cầu (Hct) tăng nhiều do máu bị cô đặc.
Trong khi chờ đợi đi khám bệnh, cho bệnh nhân uống thật nhiều nước. Uống dung dịch ORS (bán nhiều ở các nhà thuốc tây) 1gói pha với 1 lít nước sạch, uống kèm theo nước trái cây, nước dừa...
Bệnh nhân sốt cao có thể uống thuốc hạ nhiệt như Paracetamol nhưng chú ý không được dùng Aspyrine vì sẽ gây xuất huyết nặng hơn và dễ gây sốc.
Sốt xuất huyết nặng sẽ được điều trị ở bệnh viện và cho truyền dịch hoặc truyền máu để bù khối lượng tuần hoàn.
Sốt xuất huyết nhẹ sẽ được điều trị ngoại trú và cần nhập viện ngay nếu thấy bệnh nhân li bì, bứt rứt, đau bụng nhiều, nôn ói, tay chân lạnh, tiểu ít, nhiệt độ giảm đột ngột.
Đề phòng:
Hiện nay chưa có thuốc chủng ngừa và chưa có thuốc điều trị đặc hiệu đối với bệnh sốt xuất huyết. Do đó, phòng bệnh vẫn là biện pháp chính để không bị sốt xuất huyết bằng cách:
- Vệ sinh ngoại cảnh: dọn dẹp bùn lầy, nước đọng, phát quang xung quanh nhà, thu dẹp các vật có nước đọng có thể làm nơi cho muỗi đẻ.
- Nuôi cá bảy màu ăn lăng quăng ở các bể chứa nước; các lu nước nên đậy nắp kín.
- Nhà cửa phải sáng sủa, thông thoáng, không treo nhiều quần áo trên vách nhà.
- Nên dùng cửa lưới để ngăn muỗi
- Dùng thuốc xịt muỗi để giết muỗi
- Ngủ mùng, thoa thuốc chống muỗi, đốt nhang đuổi muỗi.
Tóm lại sốt xuất huyết là một bệnh nguy hiểm và phổ biến lại chưa có thuốc chữa và thuốc ngừa. Vì vậy diệt muỗi và không để muỗi chích là biện pháp hữu hiệu nhất để tránh bệnh sốt xuất huyết.
BS NGUYỄN ĐÌNH SANG
Tuổi Trẻ
Tuổi Trẻ
Thứ Tư, 25 tháng 9, 2013
03:04
Unknown
Sốt cao là biểu hiện của nhiều bệnh nhiễm trùng khác nhau, tác nhân gây bệnh có thể là vi khuẩn hoặc siêu vi.
1. Trong mùa mưa trẻ sốt cao là do mắc bệnh sốt xuất huyết (SXH). SAISốt cao là biểu hiện của nhiều bệnh nhiễm trùng khác nhau, tác nhân gây bệnh có thể là vi khuẩn hoặc siêu vi. Tuy nhiên, trong mùa mưa cần lưu ý đặc biệt đến SXH vì bệnh này diễn tiến với nhiều bất ngờ, trường hợp nặng có thể dẫn đến tử vong.
2. Trẻ sốt cao nên để ở nhà theo dõi và cho uống thuốc hạ sốt, 2-3 ngày sau không hết sốt mới đưa đến bệnh viện khám. SAI
Vẫn phải đưa trẻ đi khám bệnh ngay để tìm nguyên nhân gây sốt. Bởi đó có thể chỉ là sốt thông thường do mọc răng hoặc là triệu trứng của căn bệnh phức tạp khác. Trường hợp sốt do bệnh SXH thì việc đưa đến bệnh viện điều trị sớm khi có biến chứng sẽ giảm đáng kể tỉ lệ tử vong.
3. Thuốc hạ sốt nào cũng dùng được cho trẻ nhỏ. SAI
Thuốc hạ sốt an toàn nhất cho trẻ là nhóm Acetaminophen (Paracetamol, Acemol...). Không nên cho trẻ dùng các loại thuốc hạ sốt chứa Aspirine, vì tác dụng phụ của thuốc này là gây xuất huyết, do đó nếu dùng cho một trẻ đang bị SXH thì cực kỳ nguy hiểm. Tuy nhiên, khi trẻ sốt, ngoài sử dụng thuốc cho trẻ, các bậc cha mẹ cũng nên kết hợp với việc lau mát vì phương pháp tự nhiên này rất an toàn và khá hiệu quả.
4. Cả trẻ em và người lớn đều có thể bị SXH. ĐÚNG
Ở độ tuổi nào cũng có nguy cơ mắc bệnh SXH. Trước đây, bệnh này thường gặp ở trẻ em nhưng nay người lớn cũng mắc bệnh SXH khá nhiều.
5. Vệ sinh môi trường quanh nhà là biện pháp phòng chống SXH tốt nhất. ĐÚNG
Vì những góc nhà bẩn, lu đựng nước lâu ngày... là nơi trú ngụ của muỗi và lăng quăng. Dọn sạch những nơi này muỗi không còn chỗ phát triển, như thế bệnh SXH khó có thể xảy ra.
03:02
Unknown
Ngày 4/7, BS Nguyễn Thị Thúy, phó trưởng Khoa Nhiễm BV Nhi Đồng II, cảnh báo nhũ nhi dưới 18 tháng tuổi, nếu mắc bệnh sốt xuất huyết thường nặng hơn so với các trẻ lớn, do khó phát hiện và dễ lầm với các bệnh khác.
Đến 10 giờ sáng ngày 4/7, Khoa Nhiễm BV Nhi Đồng II đang tiếp nhận và điều trị cho 30 trẻ mắc bệnh sốt xuất huyết trong đó có 3 trẻ nhũ nhi khoảng từ 6 - 7 tháng tuổi.
Tổng số bệnh sốt xuất huyết tại Khoa Nhiễm vào thời điểm này chiếm từ một phần ba đến hơn một nửa so với các bệnh truyền nhiễm khác như viêm não, bệnh tay chân miệng.
| Theo số liệu thống kê 6 tháng đầu năm 2006 của BV Nhi Đồng II, Khoa Nhiễm đã nhận và điều trị cho 870 bệnh nhân sốt xuất huyết, trong đó bệnh nhân độ I chiếm 149, độ II là 649, độ III là 65, độ IV là 7. So với cùng kỳ năm ngoái, bệnh nhân sốt xuất huyết chỉ có hơn 440 trẻ trong đó độ II là 326, độ III là 46. |
Đồng thời, týp vi-rút gây sốt xuất huyết chủ yếu được xác định trong 5 tháng qua là týp 2, một týp có độc lực cao và dễ có khả năng gây thành dịch lớn.
Triệu chứng bệnh sốt xuất huyết ở nhũ nhi thường là sốt cao, ho, sổ mũi, tiêu chảy. Do đó, khi trẻ bị bệnh sốt xuất huyết thường dễ lầm với các bệnh khác như: tiêu chảy, viêm phế quản, viêm hô hấp trên.
Đối với các bậc phụ huynh, đặc biệt là các bà mẹ có con là nhũ nhi,khi trẻ bị sốt cao trên 2 ngày, quấy khóc, ói, bỏ ăn kèm theo xuất huyết dưới da, phải lập tức đưa trẻ đến khám tại các Trung tâm Y tế quận, huyện để bác sĩ chỉ định xét nghiệm máu, theo dõi diễn tiến bệnh.
Khi chăm sóc trẻ sốt xuất huyết tại nhà, khi cho trẻ uống thuốc hạ sốt, các bậc phụ huynh tránh dùng aspirin và ibuprofen. Hai loại thuốc này có thể gây xuất huyết đường tiêu hóa. Trẻ sốt cao có thể đắp mát để giúp hạ thân nhiệt và cho trẻ uống nhiều nước.
Thứ Ba, 24 tháng 9, 2013
11:58
Unknown
Tay-chân-miệng là bệnh nhiễm trùng phổ biến ở trẻ dưới 5 tuổi. Bệnh tay-chân-miệng thường hình thành các ổ dịch nhỏ trong những trường mầm non.
Bệnh do Enterovirus 71 và Coxsakie Theo Sở Y tế TPHCM, hiện nay bệnh “tay - chân - miệng” (hand-foot-and-mouth disease) đang có khuynh hướng gia tăng từ những ngày nhập học.
Tại Bệnh viện Nhi đồng 1, mỗi tuần có khoảng 300 trường hợp khám bệnh “tay - chân - miệng”, trong đó có trên 30 trường hợp phải nhập viện do bị biến chứng lên não, thần kinh, viêm cơ tim, liệt chi…
Nguyên nhân gây bệnh này là do các loại siêu vi Enterovirus 71 và Coxsakie. Bệnh lây qua đường nước bọt, phân và dịch tiêu hóa. Bệnh thường xảy ra ở trẻ nhỏ dưới 3 tuổi nhưng đến nay vẫn chưa có vaccine phòng bệnh hoặc thuốc đặc trị.
Bệnh có biểu hiện đặc trưng là sốt, xuất hiện hồng ban và tổn thương loét ở niêm mạc miệng làm cho trẻ biếng ăn và bóng nước (mụn phỏng, 2-10mm) ở mu tay và mu chân trong nhiều ngày. Triệu chứng thần kinh như: sốt cao, đau đầu, nôn mửa.
Thường thì bệnh thường chỉ kéo dài vài ngày, bệnh nhân có thể tự cải thiện và hồi phục. Nếu cần có thể sử dụng một số thuốc giảm đau thông thường để đỡ khó chịu do mụn rộp trong miệng. Tuy nhiên, chớ nên coi thường vì bệnh có thể gây ra các biểu hiện thần kinh cấp tính, đôi khi dẫn đến viêm màng não vô trùng, viêm não tủy hoặc thậm chí liệt mềm cấp giống như viêm tủy xám bại liệt.
Người ta chia bệnh thành 4 cấp độ: Giai đoạn 1, xuất hiện hồng ban, bóng nước và có thể gây biến chứng; Giai đoạn 2, có ảnh hưởng đến thần kinh trung ương (như viêm não hoặc viêm màng não); Giai đoạn 3, suy hô hấp, phù phổi, huyết áp không bình thường (tăng hoặc giảm); Giai đoạn 4, hồi phục hoặc tử vong.
Dễ gây biến chứng
Một nghiên cứu ở Đài Loan trên 41 trẻ bị bệnh “tay - chân - miệng” cho thấy: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 2,5 tuổi (từ 3 tháng đến 8,2 tuổi). Có 28 bệnh nhân bị bệnh này (68%), có 6 bệnh nhân có viêm họng herpes và 7 bệnh nhân khác không có tổn thương da hay niêm mạc.
Ba hội chứng thần kinh được ghi nhận là: viêm não vô trùng (ở 3 bệnh nhân); viêm thân não (37 bệnh nhân) và liệt mềm cấp (4 bệnh nhân, sau đó có 3 bệnh nhân viêm thân não). Trong 20 bệnh nhân viêm thân não, đặc trưng của hội chứng là phản xạ rung giật cơ, thất điều vận động, hoặc cả hai (bệnh độ 1). Mười bệnh nhân bị rung giật cơ và tổn thương thần kinh sọ (bệnh độ 2). Bảy bệnh nhân nhiễm virus thân não có biểu hiện rung giật cơ thoáng qua, tiếp theo là khởi phát nhanh suy hô hấp, tím tái, giảm tưới máu ngoại vi, sốc, hôn mê, mất phản xạ mắt búp bê và khó thở (bệnh độ 3); 5 bệnh nhân trong số này tử vong trong vòng 12 giờ sau nhập viện.
Có 17 trong số 24 bệnh nhân bị viêm thân não được chụp MRI, cho thấy hình ảnh tổn thương đậm độ cao ở vùng thân não, thường gặp nhất ở chỏm cầu não. Khi tái khám, 2 bệnh nhân có liệt mềm cấp bị di chứng yếu chi và 5 bệnh nhân có viêm thân não bị di chứng khiếm khuyết thần kinh dai dẳng, gồm rung giật cơ (1 trẻ), tổn thương thần kinh sọ (2 trẻ) và ngưng thở lệ thuộc máy thở (2 trẻ).
Nghiên cứu cho biết các biến chứng thần kinh chính là viêm thân não, có tỷ lệ tử vong là 14%. Các triệu chứng khởi đầu thường gặp nhất là rung giật cơ, và chụp MRI thường cho thấy bằng chứng về tổn thương thân não.
Phòng ngừa và điều trị
Bệnh “tay - chân - miệng” có thể phòng ngừa được bằng cách giữ vệ sinh thân thể sạch sẽ, nên rửa tay bằng xà bông diệt khuẩn cho trẻ trước khi ăn, thực hiện chế độ ăn chín, uống sôi. Cần cách ly trẻ với môi trường bị nhiễm bệnh, đặc biệt là dụng cụ học tập, đồ chơi.
Trong trường hợp trẻ bị bệnh, việc phát hiện sớm và điều trị đúng cách sẽ quyết định giảm tỷ lệ tử vong và di chứng. Tùy từng trường hợp, thể trạng, giới tính, tuổi tác cấp độ bệnh mà có giải pháp điều trị khác nhau. Đối với trường hợp ở cấp độ 1, bệnh nhân có thể điều trị ngoại trú, nghỉ ngơi, tránh những yếu tố gây kích thích. Theo dõi chặt chẽ và tái khám mỗi ngày. Từ cấp độ 2 trở lên thì trẻ cần được đưa vào trung tâm y tế để điều trị tích cực bằng kháng sinh, chống phù não, bảo đảm đường thông khí, phát hiện và điều trị bội nhiễm…
11:56
Unknown
Bác sĩ Nguyễn Văn Lâm, Khoa truyền nhiễm, Bệnh viện Nhi Trung ương, cảnh báo: “Đây là thời điểm thuận lợi để bệnh thuỷ đậu phát triển. Nếu cha mẹ không biết cách phòng ngừa bệnh sẽ dẫn đến nhiễm trùng, viêm phổi, viêm não".
| Bệnh thủy đậu không nặng nhưng phức tạp và dễ biến chứng. |
Bệnh lây nhiễm do virus
Theo BS Lâm, thuỷ đậu là bệnh nhiễm virus cấp tính toàn thân với khởi bệnh đột ngột, sốt nhẹ, sau đó ở da xuất hiện những nốt phỏng nước như hạt đậu. Sau 3-4 ngày, những nốt phỏng bắt đầu xẹp nước và để lại những nốt vảy.
Các tổn thương của nốt đậu thường xuất hiện nhiều ở chỗ kín hơn chỗ hở, thường mọc nhiều ở các vùng như: Da đầu, hố nách, niêm mạc miệng, đường hô hấp trên, kết mạc. Trong một vài trường hợp, bệnh ở thể ẩn, không xuất hiện những nốt phỏng.
BS Lâm khẳng định, bệnh thuỷ đậu là một trong những bệnh truyền nhiễm dễ lây nhất, nhất là ở giai đoạn đầu mới phát ban. Cơ chế lây truyền là từ người sang người bằng tiếp xúc trực tiếp. Khi tiếp xúc, những giọt nước bọt bắn trong không khí có chứa virus gây bệnh thuỷ đậu sẽ dễ dàng lây sang người lành, nhất là trẻ nhỏ vốn có sức đề kháng yếu ớt.
Vì vậy, ở những nơi tập trung đông trẻ như các trường mẫu giáo, các trường tiểu học, nếu xuất hiện một vài ca bệnh thuỷ đậu sẽ rất dễ lây lan thành dịch. Thời kỳ ủ bệnh thường từ 2-3 tuần. Thời kỳ lây truyền dài nhất là 5 ngày, thường từ 1-2 ngày trước khi phát ban và không quá 5 ngày sau khi xuất hiện lớp phỏng rạ đầu tiên.
Điều trị đúng cách
“Phải cách ly với người lành ngay khi bé có dấu hiệu mắc bệnh”, bs Lâm khuyến cáo. Tốt nhất là cho trẻ nghỉ học để tránh lây sang các trẻ khác. Tất cả đồ dùng cá nhân của người bệnh đều được dùng riêng, nhất là bát, đũa, khăn mặt.
Khi trẻ mắc bệnh, cần đưa trẻ đi khám bác sĩ, không được tự ý tắm cho trẻ bằng các loại lá theo chỉ dẫn truyền miệng dân gian để tránh tình trạng bội nhiễm, nhất là nhiễm trùng máu rất nguy hiểm, có thể dẫn đến tử vong. Tuỳ tình trạng bệnh, bác sĩ sẽ đưa ra phác đồ điều trị thích hợp, trong đó thuốc đặc hiệu để diệt virus là không thể thiếu.
Kết quả cho thấy, điều trị đặc hiệu bằng cả 2 loại thuốc vidarabin (adenin arabinosit, Ara-A) và acycclovir (zovirax) đều có hiệu quả tốt, nhưng bệnh nhân cần được điều trị sớm trong vòng 24 giờ sau khi nổi các nốt phỏng.
Đặc biệt, thuốc acycclovir có tác dụng rút ngắn thời gian biểu hiện triệu chứng và đau ở những người cao tuổi. Phần lớn, nếu ở thể nhẹ, bệnh nhân sẽ được chỉ định bôi dung dịch xanhmethilen.
Tiêm vaccine để phòng bệnh
BS Lâm cũng cho hay, cách phòng bệnh tốt nhất hiện nay là tiêm vaccine. Liều đơn 0,5ml tiêm dưới da, tiêm cho trẻ cảm nhiễm từ 12 tháng đến 12 tuổi. Hiệu lực bảo vệ của vaccine này từ 70-90% trong vòng 3-6 năm.
Tuy nhiên, trong thực tế có những trường hợp đã tiêm phòng vaccine nhưng vẫn mắc bệnh.
Phần lớn các trường hợp đã tiêm phòng mắc bệnh đều ở thể nhẹ, các nốt phỏng sẽ ít hơn, triệu chứng lâm sàng (sốt, ho, bội nhiễm) sẽ ít hơn. Những người có những bệnh mạn tính làm suy giảm hệ miễn dịch nên được tiêm nhắc lại vaccine liều thứ 2, khoảng cách với liều đầu khoảng 4 tuần
Những biến chứng nguy hiểm của bệnh thuỷ đậu
Bệnh thuỷ đậu khá nguy hiểm, trong trường hợp để bệnh tiến triển quá nặng, sẽ dẫn đến biến chứng viêm phổi virus tiên phát, viêm thận, viêm tuỵ. Còn ở trẻ em bệnh thường gây biến chứng nhiễm trùng huyết và viêm màng não.
Đặc biệt, phụ nữ trong thời kỳ mang thai cần lưu ý: Nhiễm bệnh trong 3 tháng đầu của thời kỳ mang thai có thể liên quan đến dị tật bẩm sinh! Kết quả theo dõi cho thấy, có tới 25% thai nhi sẽ bị ảnh hưởng nếu người mẹ mắc bệnh thủy đậu trong thời kỳ đầu của thai kỳ.
Điều nguy hiểm là phụ nữ mang thai nếu mắc bệnh thuỷ đậu trong vòng 1 tuần trước và sau khi sinh thì có tới 30% trẻ em sinh ra có thể bị tử vong do mắc hội chứng thuỷ đậu do bị nhiễm bệnh thuỷ đậu từ mẹ quá sớm.
Thứ Bảy, 21 tháng 9, 2013
10:47
Unknown
a. Thuỷ đậu
|
Đăng ký:
Bài đăng
(
Atom
)
.jpg)
.png)
.png)
.jpg)

.png)
.png)
.jpg)


.png)
.png)
.png)

.jpg)