Thứ Năm, 10 tháng 10, 2013

Tiếng thở khò khè, ho khan hay sâu của trẻ ẩn chứa nhiều thông điệp sức khỏe khác nhau. Khi mà bé không thể tự nói đau ở đâu, vấn đề của cha mẹ là phân biệt các chứng bệnh liên quan để có cách tự xử lý hoặc cấp cứu.


 
 Bé bị ho sẽ rất mệt mỏi
Ho thực chất là một cách tự vệ của cơ thể tự vệ, theo giải thích của Giám đốc trung tâm các bệnh truyền nhiễm ở trẻ Nassau County (Mỹ) Howard Balbi. Ho là cách cơ thể làm thông đường hô hấp, tống đờm dãi hoặc thức ăn mắc lại trong cổ họng ra ngoài, không cho nước mũi chảy ngược vào cổ họng. Có hai kiểu ho cho mục đích này:
Ho khan: xảy ra khi bé bị lạnh hoặc dị ứng. Kiểu ho này giúp dọn sạch dịch mũi và sự khó chịu từ cổ họng sưng.
- Ho sâu: bắt nguồn từ một bệnh hô hấp nào đó kèm với sự nhiễm khuẩn. Ho thường đi kèm theo đờm hoặc dịch mũi (chứa cả tế bào bạch huyết chống khuẩn hình thành trong đường thở của trẻ).
Trẻ dưới 4 tháng không ho nhiều, cho nên nếu bé ho thì cần chú ý. Vào mùa đông, khi trẻ ho kinh khủng, nguyên nhân có thể là do virus hô hấp hợp bào (RSV) nguy hiểm. Nếu trẻ dưới 1 tuổi thì chuyện ho ít đáng báo động vì nguyên nhân chủ yếu là do lạnh.
Để giúp bạn phân biệt kiểu ho nào cần theo dõi và kiểu cần xử lý khẩn cấp, trước tiên là cần bình tĩnh, lắng nghe âm thanh cẩn thận và xem xét các chỉ dẫn dưới đây:
Cảm lạnh thường hay cúm?
Những dấu hiệu cho thấy tiếng ho của trẻ là do cảm lạnh gồm:
* Nghẹt và chảy nước mũi
* Sưng họng

- Âm thanh nghe khô khan
- Các triệu chứng khác: tuỳ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của cảm lạnh, trẻ có thể có:
* Nước nhầy rớt 
* Sốt nhẹ về đêm

Cách trị: cho trẻ uống nhiều nước và nghỉ ngơi. Có thể dùng máy làm ẩm khí để giúp bé dễ thở hơn. Cho dù bạn nóng lòng muốn trẻ bớt ho, nên hỏi bác sĩ trước khi dùng:
* Thuốc ho long đờm 
* Thuốc làm thông mũi (Decongestant) 
* Thuốc ho (không nên dùng trừ phi trẻ ho nhiều làm mất ngủ ban đêm). 
* Acetaminophen (để giảm sốt)

Nếu thân nhiệt của trẻ từ 37 độ C trở lên và trông mệt mỏi, nên gọi ngay bác sĩ vì nhiều khả năng bé bị cúm. Nếu trẻ dưới 4 tháng tuổi, gọi bác sĩ ngay nếu sốt. Thậm chí sốt nhẹ cũng nghiêm trọng đối với trẻ sơ sinh.
Bệnh bạch hầu thanh quản
Bạn sẽ biết ngay bé bị bạch cầu thanh quản khi thấy con thức dậy nửa đêm và ho sâu, khó thở. Bệnh bạch cầu thanh quản thường ảnh hưởng tới trẻ dưới 5 tuổi và bắt đầu bằng hiện tượng cảm lạnh hoặc sổ mũi sáng sớm.
- Âm thanh giống như ho sâu
Các triệu chứng khác: thường là do nhiễm virus. Bệnh bạch cầu thanh quản làm cho niêm mạc khí quản sưng lên và nghẹt đường thở - đó là nguyên nhân vì sao trẻ khó thở. Bạn sẽ nghe thấy tiếng ho đặc kín khi trẻ hít thở vào (không phải lúc thở ra).
Cách trị: trước tiên cần làm cho bé bình tâm, sau đó thử áp dụng một trong các cách sau đây để giúp bé dễ thở:
* Mở vòi hoa sen, đóng cửa nhà tắm và cho bé thở trong không khí đầy hơi nước. 
* Nếu là nửa đêm, đưa bé ra ngoài, không khí ẩm sẽ làm cho con dễ thở hơn. 
* Cho trẻ thở không khí từ máy làm ẩm khí
* Bệch bạch cầu thanh quản sẽ hết trong khoảng 3-4 ngày, nếu không đỡ thì cần gọi bác sĩ.
Viêm phổi
Bệnh viêm phổi xảy ra khi phổi bị nhiễm khuẩn hoặc virus do một số bệnh mang lại, kể cả cảm lạnh thường.
- Tiếng ho nghe sâu và có đờm
- Các triệu chứng khác: trẻ rất mệt và dễ ho, nhìn mọi thứ đều có sắc xanh và vàng.
Cách trị: phụ thuộc vào nguyên nhân là virus hay vi khuẩn, hãy gọi cho bác sĩ nếu bé bị sốt. Viêm phổi do vi khuẩn thường nguy hiểm hơn và thủ phạm thường là khuẩn strep pneumonae.

Viêm phế quản - phổi là bệnh viêm cấp tính các phế quản nhỏ, phế nang và tổ chức quanh phế nang. Thường viêm rải rác cả hai phổi nên bệnh rất nặng và gây suy hô hấp. Bệnh thường gặp vào mùa đông, tiến triển nặng, dễ dẫn đến tử vong.


Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thì nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính chiếm 50% toàn thể các bệnh ở trẻ em dưới 5 tuổi và 30% ở trẻ từ 5-12 tuổi. Tỷ lệ tử vong 75% trong các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính.
Cũng theo WHO, tổng số tử vong/năm ở trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn thế giới do mọi nguyên nhân là 13 triệu, trong số này viêm phổi chiếm 30% (4,3 triệu). Ở Việt Nam, một trẻ em có thể mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính từ 3-5 lần/năm (tức 8-10 triệu lần trẻ mắc), là nguyên nhân tử vong hàng đầu trong các bệnh về đường hô hấp.
Nguyên nhân
Do vi khuẩn Hemophilus influenzae rồi đến tụ cầu, liên cầu, ký sinh trùng, nấm, virus cúm.
Yếu tố thuận lợi
- Khí hậu lạnh, thời tiết thay đổi vào các tháng đông - xuân.
- Trẻ nhỏ, trẻ đẻ non, trẻ suy dinh dưỡng. 
- Viêm phế quản còn gặp ở người già yếu, người bị suy giảm miễn dịch.
Nguyên nhân: ô nhiễm môi trường, nhà cửa ẩm thấp, khói thuốc lá. Cơ địa dị ứng hoặc trẻ đang mắc các bệnh sởi, cúm, ho gà.
Những biểu hiện khi bị viêm phế quản - phổi:
- Trẻ thường sốt cao 38-39o. 
- Người già và trẻ suy dinh dưỡng có khi không sốt. 
- Bệnh nhi thường mệt mỏi, quấy khóc, môi khô, bú ít hoặc bỏ bú. 
- Lúc đầu ho khan, sau ra nhiều đờm rãi, trẻ em không biết khạc đờm thường nuốt. 
- Khó thở ậm ạch, thở nhanh nông trên 50 lần/phút; cánh mũi phập phồng, lồng ngực co rút, môi và đầu chi tím tái, khi bệnh nặng thì có thể rối loạn nhịp thở. 
- Nghe phổi có ran ẩm, ran rít, ran ngáy rải rác ở một hoặc hai bên phổi.
- Xquang có nốt mờ rải rác ở hai phổi. 
- Xét nghiệm máu, bạch cầu đa nhân trung tính tăng cao.
Xử trí khi bị viêm phế quản - phổi
Nếu được phát hiện và điều trị sớm, bệnh sẽ lui dần. Thường bệnh viêm phế quản - phổi là bệnh rất nặng, điều trị muộn có thể dẫn đến tử vong. Khi bị viêm phế quản - phổi ở trẻ em hay người già cần được theo dõi ở các cơ sở y tế. Nếu nặng cần đưa đi bệnh viện và điều trị bằng các biện pháp sau:
- Chống nhiễm khuẩn bằng kháng sinh như penicillin, erythromycin, methixilin, các cefalosporin thế hệ II, III, nhóm quinolon... Kết hợp hai hay ba loại kháng sinh khi cần thiết.
- Khó thở, suy hô hấp thì cho thở ôxy.
- Điều trị các rối loạn điện giải tim mạch, nôn trớ, nếu có.
- Chăm sóc toàn diện: ủ ấm, ăn sữa, uống nước đủ hằng ngày. Giảm ho bằng uống thuốc dân gian như hoa hồng bạch hấp với đường phèn hay nước sắc lá cây rẻ quạt còn gọi là cây xạ căn. Nếu sốt cao dùng thuốc hạ nhiệt như paracetamol.
Phòng bệnh
- Cho trẻ bú mẹ, ăn đủ chất để nâng cao thể trạng.
- Giữ vệ sinh môi trường, vệ sinh trong nhà trẻ, nhà trường, nhà hộ sinh. Tiêm chủng mở rộng phòng bệnh cho trẻ em theo đúng quy định.
- Không hút thuốc lá trong buồng ngủ có trẻ, trong nhà trẻ.
- Nếu phát hiện có dịch sởi, ho gà, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay là dịch cúm gia cầm, phải kịp thời cách ly để tránh lây cho trẻ khác, vì các bệnh này là một trong những nguyên nhân gây biến chứng viêm phế quản - phổi.

Chứng ho lâu ngày là một bệnh nhiễm trùng đường hô hấp do vi khuẩn gây ho lâu ngày Bordetella gây ra. Chứng bệnh này được miêu tả với các đặc trưng ho nhiều, dẫn đến ho khúc khắc khi người bệnh hít thở. Tại Mỹ, căn bệnh này giết 5.000-10.000 người mỗi năm.


 Hiện nay vaccine ngừa ho lâu ngày đã giúp giảm số tử vong vì căn bệnh này xuống 30%. Mặc dù ho lâu ngày có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng đối tượng nó thường tấn công là trẻ không được chủng ngừa và trẻ sơ sinh dưới 1 tuổi. Theo thống kê, khoảng 40% trong số các ca nhiễm trùng gây ho lâu ngày xảy ra ở trẻ dưới 1 tuổi, 15% xảy ra ở trẻ trên 15 tuổi. Một nửa trong số các ca tử vong do ho lâu ngày nằm trong nhóm trẻ sơ sinh dưới 1 tuổi, và các biến chứng nghiêm trọng cũng thường xảy ra ở nhóm này. Trong những năm qua, bệnh ho lâu ngày cũng đang tăng lên ở nhóm thanh thiếu niên và người lớn. Việc chủng ngừa sớm có thể ngăn được bệnh này. Dấu hiệu và triệu chứng Các triệu chứng đầu tiên của chứng ho lâu ngày thường giống với bệnh cảm lạnh thông thường, bao gồm: - Chảy nước mũi - Hắt hơi - Ho nhẹ - Sốt nhẹ Sau khoảng 1-2 tuần, triệu chứng ho khan, rát chuyển thành ho từng đợt, mỗi đợt có thể kéo dài hơn 1 phút, có thể khiến cho trẻ trở nên đỏ hoặc da có màu như xuất huyết. Cuối mỗi cơn ho, trẻ có thể phát ra âm thanh ho khúc khắc khi thở hoặc có thể nôn mửa. Giữa các cơn ho, trẻ thường cảm thấy dễ chịu. Các con đường lây lan của bệnh Chứng ho lâu ngày có nguy cơ lây lan cao. Vi khuẩn lây từ người này sang người khác qua chất dịch từ mũi hay miệng của người nhiễm bệnh khi người bệnh ho, hắt hơi hay cười to. Những người khác sau đó có thể bị nhiễm bệnh do hít phải các chất dịch này hoặc khi các chất này bám vào tay họ và họ vô tình chạm tay vào mũi hay miệng mình. Người nhiễm bệnh thường lây bệnh ở giai đoạn đầu của bệnh đến khoảng 2 tuần sau khi bắt đầu bị ho. Thời gian ủ bệnh Thời gian ủ bệnh thường từ 7-10 ngày, cũng có thể kéo dài đến 21 ngày. Thời gian kéo dài bệnh Ho lâu ngày có thể gây ra nhiều triệu chứng kéo dài. Triệu chứng đầu tiên là trẻ thường bị cảm lạnh từ 1-2 tuần. Sau đó là ho từ 2-4 tuần, đôi khi lâu hơn. Giai đoạn cuối bao gồm nhiều tuần để hồi phục từ từ. Trong một số trường hợp, trẻ có thể phải mất đến nhiều tháng mới hồi phục hẳn. Ngăn ngừa bệnh Chứng ho lâu ngày có thể được ngăn ngừa bằng cách tiêm vaccine, với 5 liều tiêm dành cho trẻ cho đến khi trẻ lên 6 tuổi. Các chuyên gia tin rằng có đến 80% những thành viên trong gia đình không được tiêm ngừa mắc bệnh ho lâu ngày nếu họ sống chung nhà với người mắc bệnh này. Vì lý do này mà bất cứ người nào có tiếp xúc gần với bệnh nhân ho lâu ngày cũng nên dùng kháng sinh để ngừa bệnh lây lan. Riêng trẻ nhỏ không nhận đủ 5 liều vaccine có thể yêu cầu một liều tăng cường nếu trong nhà có người bị bệnh. Tuổi Trẻ 

Viêm tiểu phế quản là bệnh rất phổ biến ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Trong trường hợp nghiêm trọng, trẻ có thể phải nhập viện và cần sự hỗ trợ của máy thở và thuốc kháng virus. 


Nguyên nhân gây bệnh? Thủ phạm gây viêm tiểu phế quản là virus hợp bào hô hấp (RSV), thường gieo bệnh cho trẻ dưới 2 tuổi vào mùa đông và đầu xuân. Ở người già, bệnh có biểu hiện như chứng cảm lạnh thường. Triệu chứng điển hình của viêm tiểu phế quản ở trẻ gồm: - Ho - Khò khè - Khó thở - Ra nhiều mủ nhầy - Ăn uống kém Điều trị viêm tiểu phế quản bằng cách nào? Thuốc kháng sinh không có tác dụng trong trường hợp này, vì viêm tiểu phế quản do virus gây nên. Một loại thuốc kháng virus có tên là ribavirin có thể giúp trị bệnh, song dược liệu này không phổ biến vì có nguy cơ gây phản ứng phụ và thiếu tính thực tế trong sử dụng. Do đó, cách đối phó tốt nhất là hỗ trợ và dựa vào mức độ nghiêm trọng của bệnh. Phần lớn trẻ nhỏ viêm tiểu phế quản RSV nhẹ thường bị ho và khò khè một chút, song nhìn chung vẫn ăn uống tốt và không cần sự hỗ trợ của máy thở hay viên thuốc nào. Trong một vài ngày, bệnh sẽ tự khỏi. Trong trường hợp nghiêm trọng, trẻ sẽ thấy khó chịu vì triệu chứng thở khò khè và ra nhiều dịch nhầy, ngăn cản không khí tới các phế nang của phổi. Lúc này, trẻ cần thêm oxy, hoặc thậm chí phải dùng đến salbutamol - dược liệu làm giãn cơ phổi dùng trong bệnh hen suyễn. Một khâu quan trọng trong điều trị viêm tiểu phế quản là hút hết dịch nhầy, và việc này cần phải tới bệnh viện. Có phải trẻ nào cũng dễ mắc bệnh? Trẻ sơ sinh và những em gặp sự cố về hô hấp hoặc tim mạn tính có nguy cơ bị viêm tiểu phế quản nặng. Đã có văcxin đặc biệt dành riêng cho trẻ có nguy cơ cao. Hãy tham vấn bác sĩ về loại văcxin này. Có phải viêm tiểu phế quản sẽ phát triển thành hen suyễn? Một số người hiểu nhầm rằng viêm tiểu phế quản chắc chắn sẽ trở thành hen suyễn, nguyên nhân có thể do chúng có triệu chứng giống nhau. Cần biết rằng hen suyễn được định nghĩa là tình trạng tái diễn các cơn khò khè, ho và khó thở ở những trẻ không bị mắc bệnh phổi nào khác. Một số chuyên gia cho rằng những trẻ có di truyền dị ứng hoặc hen suyễn rất dễ bị nhiễm khuẩn RSV, trong khi số lại nói RVS có thể kích thích phát triển bệnh hen suyễn. Dù ở trường hợp nào, hiện tượng tái diễn bệnh là yếu tố quyết định. Nghĩa là nếu trẻ có biểu hiện tái phát triệu chứng nhiều lần thì đó có thể bệnh hen suyễn, còn nếu không tái phát thì đó là viêm tiểu phế quản.

Thứ Tư, 9 tháng 10, 2013

Loại bệnh lý này có thể gặp ở bất cứ lứa tuổi nào, rất dễ xảy ra ở trẻ dưới 5 tuổi và là nguyên nhân gây tử vong cao ở trẻ em. Mỗi năm thế giới có hơn 4 triệu trẻ dưới 5 tuổi chết do chứng này.


 Ở Việt Nam, nhiễm khuẩn cấp đường hô hấp chiếm 30-40% số bệnh nhi vào điều trị ở các bệnh viện; tỷ lệ tử vong lên đến 20-25% số trẻ mắc bệnh. Nhiễm khuẩn cấp đường hô hấp trên (mũi, xoang mũi, họng và thanh quản) Bệnh cảnh hay gặp nhất là cảm lạnh, viêm mũi, viêm họng, viêm hạch hạnh nhân (amiđan), bệnh bạch hầu. Ở nước ta, trẻ em thường mắc các bệnh này vào mùa đông xuân, lúc khí hậu lạnh và ẩm, mỗi năm có thể mắc vài lần. Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là nhiễm virus, vi khuẩn, có khi phối hợp cả hai. Nếu bệnh nhẹ, triệu chứng chủ yếu là chảy nước mũi trong, hắt hơi, ho nhẹ, khô hốc mũi, khó chịu trong họng. Trường hợp nặng hơn, ngoài các dấu hiệu trên, trẻ rất mệt mỏi, sốt 38-38,5 độ C, có khi sốt cao hơn và co giật, khó thở, bỏ bú hoặc bỏ ăn. Bệnh kéo dài khoảng vài ngày đến 2 tuần, sau đó các triệu chứng nhẹ dần và khỏi hẳn. Phụ huynh thường không chú ý đến những nguyên nhân gây bệnh nên thường nhầm là cảm cúm. Các trường hợp nặng và kéo dài có thể gây các biến chứng như viêm tai giữa (sốt cao không giảm, do tai đau nên quấy khóc, ngoẹo đầu sang một bên, sau đó tai chảy mủ), có thể nhiễm khuẩn lan xuống đường hô hấp dưới gây viêm phổi. Có những trường hợp bị viêm thanh quản cấp làm cho khoang thanh quản bị sưng phù, lượng không khí vào phổi giảm rõ rệt, xuất hiện tình trạng “thở khó khi hít vào”, ho và khản tiếng. Viêm họng do liên cầu khuẩn nhóm A không được điều trị kịp thời có thể gây thấp khớp cấp và thấp tim, phải điều trị lâu dài. Nhiễm khuẩn cấp đường hô hấp dưới (phế quản, phổi và phế nang) Nguy hiểm nhất là viêm phổi, vì đó là nguyên nhân gây tử vong cao cho trẻ và người cao tuổi. Trẻ 2-5 tuổi hay bị viêm phổi nhất. Bệnh thường phát sinh vào mùa đông-xuân, khi nhiệt độ thay đổi đột ngột. Nguyên nhân thường là vi khuẩn và virus, hiếm khi do nấm, mốc, động vật đơn bào. Có những trường hợp khởi đầu bị nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, không chữa trị kịp thời nên biến chứng lan vào phổi. Dấu hiệu thông thường của viêm phổi là sốt. Có trường hợp bắt đầu bằng cơn rét run, sau đó sốt mới xuất hiện, tiếp theo là tức ngực và ho, lúc đầu ho khan, về sau có đờm, ho làm tức ngực tăng thêm. Bệnh nhân khó thở, nhịp thở tăng nhanh, mạch nhanh, mệt mỏi, chán ăn. Các dấu hiệu viêm phổi ở người cao tuổi có khi không rõ rệt, sốt nhẹ hơn và đôi lúc có biểu hiện tâm thần như lú lẫn, chán ăn. Đối với trẻ nhỏ, sốt cao thường đột ngột (39-40 độ C), trẻ thở nhanh, ho khan, về sau mới có đờm, khó thở và nghe tiếng rít; mặt đỏ hoặc tím tái, có khi co giật, trướng bụng, nước tiểu ít và màu sẫm. Mỗi khi thấy trẻ dưới 1-2 tuổi có hiện tượng mệt mỏi, chán ăn thì phải chú ý ngay xem có sốt, ho, co giật không, giấc ngủ có bị lơ mơ, lồng ngực có co rút không, tiếng thở có khò khè không. Cần xem nhịp thở. Nếu nhịp thở trên 60 lần/phút với trẻ dưới 2 tháng tuổi, trên 50 lần/phút với trẻ 3-12 tháng tuổi, trên 40 lần/phút với trẻ 1-5 tuổi nghĩa là nhanh so với bình thường. Nếu thấy những dấu hiệu này, phải nghĩ đến viêm phổi cấp và đưa trẻ đến khám bác sĩ ngay để được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Việc sử dụng thuốc men, nhất là các kháng sinh, phải theo đúng chỉ định của thầy thuốc để tránh mọi nguy hiểm có thể xảy ra. Khi bị viêm phổi, ngoài thuốc do bác sĩ chỉ định, thì việc chăm sóc trẻ hết sức quan trọng. Phải cho trẻ nằm nghỉ tại giường, nơi thoáng khí nhưng không có gió lùa. Những ngày đầu cho ăn thức ăn lỏng và loãng, hợp khẩu vị, uống thêm nước hoa quả. Phải giữ hai lỗ mũi thông. Thường xuyên cứ 1-2 giờ lại lật người sang trái, sang phải một lần để thay đổi tư thế, phòng loét. Khi bệnh đã giảm vẫn phải tiếp tục cho trẻ nghỉ ngơi, cho ăn thêm bữa phụ, tăng các thức ăn giàu dinh dưỡng để bệnh chóng khỏi hơn. Cách phòng tránh nhiễm khuẩn cấp đường hô hấp Tích cực luyện tập và có chế độ dinh dưỡng hợp lý để tạo sức đề kháng với bệnh. Thường xuyên hoạt động ngoài trời, không nên để trẻ suốt ngày ở trong nhà thiếu ánh nắng. Mùa hè nên tắm rửa bằng nước lạnh để tạo khả năng thích ứng của cơ thể với sự thay đổi nhiệt độ. Mùa đông cần giữ ấm đầu, cổ, ngực và hai chân. Trong nhà trẻ, nếu phát hiện một cháu bị nhiễm khuẩn cấp đường hô hấp hoặc bệnh truyền nhiễm như sởi, ho gà... thì phải cách ly suốt thời gian có khả năng lây truyền. Người lớn không được hút thuốc lá tại nơi trẻ ngủ. Trong năm đầu sau khi sinh, trẻ phải được tiêm phòng một số bệnh hay lây truyền như sởi, ho gà, bạch hầu, uốn ván, bại liệt, lao. (Theo Sức Khỏe & Đời Sống) 

Bệnh ho ở trẻ em không chỉ gây "đau đầ"u cho các bậc cha mẹ mà ngay cả bác sĩ cũng phải hết sức cẩn thận khi điều trị. Các loại ho Ho có nhiều nguyên nhân. 


Khi khám một trẻ bị ho, bác sĩ phải hỏi đặc tính của cơn ho, nếu được nghe trẻ ho càng tốt. Nhìn cách thở của trẻ cũng giúp bác sĩ chẩn đoán được trẻ ho vì bệnh gì. Có nhiều loại ho: do cảm cúm, do dị ứng, do viêm phổi, viêm cuống phổi, do mủ ở màng phổi, ho gà, ho lao... Khi nào trẻ ho mà có nóng hoặc ho dai dẳng thì phải đưa đến bác sĩ khám ngay. Tuy nhiên, không phải cứ nghe bé ho là xin chụp hình phổi. Cần "tôn trọng" cơn ho của trẻ . Ðừng tìm cách dập tắt cơn ho tức khắc mà không biết nguyên nhân cụ thể. Trong trường hợp là ho "gió", ho "cảm" chút đỉnh thì cần để cho trẻ ho. Ngay cả trường hợp bị viêm phổi hay viêm cuống phổi, vẫn để bé ho tự nhiên để tống đàm nhớt ra ngoài cho dễ thở và bớt nhiễm độc. Ho vì viêm phổi mà chỉ uống thuốc ho thì bệnh càng nặng thêm. Bác sĩ chỉ cho uống thuốc ho khi thấy cơn ho làm bé mệt nhiều và mất ngủ khiến bé suy nhược. Ðiều trị + Ho không phải là bệnh, mà chỉ là một triệu chứng của nhiều căn bệnh khác. Do đó phải cần chữa đúng bệnh trước tiên, sau đó mới chữa ho. + Trong trường hợp trẻ bị ho tím tái ở môi, ở đầu ngón tay, ngón chân và khó thở (thở nhanh, dồn dập trên 60 lần/phút), có tiếng khò khè và co kéo cơ hô hấp ở cổ xuống sườn là những trường hợp nặng, phải đưa vào bệnh viện cấp cứu ngay. + Khó thở luôn là dấu hiệu báo động, phải cần đưa bé đến ngay các cơ sở y tế gần nhất. Nên khám bệnh ngay khi trẻ có các triệu chứng nóng, ho kèm khó thở. Phải chữa tới nơi tới chốn, đừng để bệnh kéo dài, tái đi tái lại làm trẻ mất sức. Khi điều trị săn sóc tại nhà, phải: - Cho uống thuốc theo toa bác sĩ. Giữ vệ sinh tổng quát.Hút đàm nhớt cho trẻ. Nếu không, đàm nhớt sẽ làm trẻ nghẹt thở. Chỉ nên cho trẻ ăn ít, nhưng nhiều lần trong ngày. Nên cho ăn thức ăn đặc. Nếu bị ói thì ngay sau khi trẻ ói xong, nên cho ăn lại liền, trẻ sẽ không bị ói nữa. - Dùng một cuộn băng, băng chặt bụng cũng giúp trẻ giảm cơn ho. - Nên giữ ấm cho trẻ. Ðề phòng những cơn lạnh đột ngột. - Không nên cho trẻ uống thuốc ho của người lớn vì thuốc ho của người lớn thường có chất á phiện, trẻ có thể bị chết vì trúng độc Bác sĩ Ðỗ Hồng Ngọc 

Thứ Ba, 8 tháng 10, 2013

Trong sốt xuất huyết có thể gây ra những Ngộ nhận đáng tiếc ! Nhiều người đinh ninh Đó là một thứ bệnh gồm có SỐT và XUẤT HUYÈT. Thực ra không giản dị như vậy! Có những trường hợp có sốt và xuất huyết nhưng không phải là sốt xuất huyết (Thí dụ sốt thương hàn. nhiễm huyết não mô cầu. ung thư máu. VV...) 


Lại có những trường hợp không xuất huyết hoặc đã hết sốt mà là sốt xuất huyết nặng. Đã có người hốt hoảng mang đứa con bị ban đỏ đến bệnh viện xin chữa sốt xuất huyết vì có sốt và nổi những vết đỏ trên da. Có người cứ nhất định con mình bị sốt xuất huyết vì nóng lâu ngày và chảy máu cam dù bé bị thương hàn. Người khác hoang mang, ám ảnh vì sốt xuất huyết, nghe nói về dấu dây thắt, nên vừa thấy con nóng đã đè ra lấy dây thun cột chặt cánh tay đến tím bầm cũng cho là sốt xuất huyết. 

Ngược lại. có người thấy con nóng thì lo sợ vài ba hôm sau thấy bé hết nóng, đã vội mừng thì bé lại chuyển nặng vì bị sốt. Trong sốt xuất huyết, lúc nhiệt độ hạ cũng là lúc bé bị trụy tim mạch, một biến chứng nguy hôm của bệnh, nếu không kịp thời chữa trị rất khó sống. Do vậy, trong mùa dịch như hiện nay, bất cứ trường hợp bé bị nóng sốt nào ta cũng phải luôn luôn cảnh giác vì có thể là sốt xuất huyết đó ! Thời kỳ ủ bệnh kéo dài từ 5 đến 7 ngày. Trong thời gian này ta không thấy bé có triệu chứng gì cả Đột nhiên bé nóng. Nóng đến. 39-40oC. và Khó làm hạ nóng. 'Những lần nóng trước chỉ uống vài viên paracetamol đã bớt. lần này không ! Bé vẫn nóng đều như thế trong vài ba ngày liền và có vé mệt mỏi, rã rượi khác thường. Nhức đầu, bứt rứt. lăn lộn, ngủ không yên giấc. Bé biếng ăn, nhơn ói có khi mửa. Đau bụng, đau nhiều ở vùng hông bên phải, dưới bờ sườn. Vào ngày thứ ba. bé có thể đã hết nóng hay bớt nóng, nhưng bé có vẻ mệt mỏi, Lừ đừ hơn. khát nước nhiều hơn. Lúc đó, thưởng thấy xuất hiện ở cánh tay. cẳng chân những nốt đỏ nhỏ như muỗi cắn. Những nốt này khác với dấu muỗi cắn ở chỗ nếu ta lấy tay ấn lên đó nốt đỏ vẫn còn nguyên. Có khi không có nốt đỏ những là những vết bầm xanh chung quanh dấu chích. cắt lể... Có khi bé bị chảy máu cam hoặc ói ra nước lơn cợn đen. hoặc tiêu ra phân đen. Nhưng nhiều khi bé không có một triệu chứng xuất huyết nào cả như đã mô tả trên mà chỉ thấy da tay chân bé đởi sắc, không còn cái vẻ ấm áp hồng hào bình thường nữa, mà đỏ ửng hoặc tai tái Từ ngày thứ ba đến ngày thứ sáu, bệnh thường sinh biến chứng: đột nhiên bé lạnh tay chân. da đổi sắc. thâm' tím lại - Rõ nhất ở môi, cánh tay, cẵng chân. Đó là một thử' lạnh đặc biệt dễ nhận biết: lạnh giá ! Mạch yếu đi, có khi mất hẳn. Tình trạng đó gọi là trụy tim mạch hay sốt, nếu không chữa kịp có thể nguy hiểm đến tính mạng. Trên thực tế có nhiều dạng: có dạng thoáng qua như chứng cảm xoàng. không chữa cũng khỏi, đến dạng có sốt và dấu dây thắt dương (chứng tỏ mạch máu bị yếu) chỉ cần theo dõi. và có dang xuất huyết trầm trọng, trụy mạch nhanh chóng, làm kinh. Nếu chữa đúng lúc, bé qua cơn nguy hiểm, bình phục mau lẹ và không gây một di chứng nào. Điều cần nhớ là phải theo dõi sát để phát hiện giai đoạn tiền sốt (xem bảng) để đưa trẻ vào bệnh viện sớm. 
Bệnh chàm là một bệnh da dị ứng. 1. Thể bệnh - Chàm thể tạng, cơ địa dị ứng, xảy ra từ bé. - Chàm nhiễm khuẩn, xuất hiện quanh vết thương nhiễm khuẩn.

 - Chàm tiếp xúc, do kích thích của chất tiếp xúc. - Chàm da mỡ, tăng tiết chất bã, thường ở vùng ngực, lưng, rãnh mũi. 2. Biểu hiện - Mụn nước từng đám trên nền da đỏ do viêm phù. - Mụn nước vỡ, rẻ nước vàng. - Ngứa, gãi nhiều, da dày lên. - Diễn biến nhiều đợt. - Có thể có biểu hiện kèm theo: + Tiêu chảy. + Hen. + Viêm mũi họng. + Bội nhiễm chỗ chàm gãi. + Viêm thận. 3. Điều trị - Tại chỗ + Bôi hồ nước (kẽm ôxyt, bột tan, glycerin, nước). + Đắp dung dịch Jarish (giai đoạn còn chảy nước). + Bôi mỡ Goudron 5% (giai đoạn mạn tính). + Mỡ Sicorten (chàm mạn tính); Flucinar. + Rửa sạch, lau khô. - Toàn thân + Giảm cảm ứng, chống ngứa : phenergan 1%, Promethazin. + Chăm sóc dinh dưỡng. + Uống nhiều nước nếu kèm theo tiêu chảy. + Chữa biểu hiện kèm theo.  

Thứ Hai, 7 tháng 10, 2013

Hiện nay, dịch sốt xuất huyết sắp lên tới đỉnh điểm. Các chuyên gia Bệnh viện Nhi đồng I, TP HCM, khuyến cáo các bà mẹ cần nhận biết dấu hiệu sốt xuất huyết ở trẻ để đưa con em đến ngay cơ sở y tế.


Theo đó, các bà mẹ cần nghĩ ngay đến việc trẻ bị sốt xuất huyết khi có triệu chứng: 1. Sốt cao (39-41độ C), đột ngột và liên tục từ 2-7 ngày. 2. Xuất huyết: Chấm huyết ở da, chảy máu mũi, chảy máu chân răng, ói máu, tiêu ra máu, vết bầm chỗ chích. 3. Trẻ kêu đau bụng (do gan bị sưng). 4. Truỵ mạch (sốc): Nếu trẻ đã hết sốt, nhưng còn ly bì, bứt rứt, lạnh tay chân, tím môi, tiểu ít sẽ rất dễ dẫn đến tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời. Ngay khi gặp các dấu hiệu trên, phụ huynh cần cho trẻ uống thuốc hạ sốt (paracetamol), lau mát bằng nước ấm. Nên cho trẻ ăn thức ăn lỏng dễ tiêu, tránh thức ăn, nước uống có màu đen, đỏ, nâu (vì nếu trẻ ói mửa sẽ dễ nhầm lẫn là máu). Người thân cũng nên khuyến khích trẻ uống nhiều nước. Tránh tuyệt đối: Không cho trẻ uống aspirin; kiêng cữ ăn uống hoặc quấn trẻ bằng nhiều quần áo. Phần lớn nguyên nhân gây tử vong của 33 trường hợp sốt xuất huyết tính đến ngày 17/6 là do nhập viện muộn. Trong số đó, hơn 90% số ca tử vong dưới 15 tuổi. Tính đến nay có hơn 17.700 ca nhiễm sốt xuất huyết. Riêng khu vực miền Nam có hơn 15.000 ca, 30 trường hợp tử vong. Hầu hết trường hợp tử vong thường trong vòng 48 giờ sau khi đến viện (74,2%). So với cùng kỳ năm 2003, số mắc tăng 79,5%, tử vong tăng 11 trường hợp. Tỷ lệ tử vong như sau: Sóc Trăng 7/2560 ca; TP HCM 2/2442 ca; Tiền Giang 5/1488 ca; Đồng Tháp 4/1340 ca

Viêm não Nhật Bản được biết đến từ năm 1871, nhưng mãi tới năm 1935 mới được phân lập từ người bệnh ở Tokyo (Nhật Bản). Sau đó, bệnh hoành hành và gây dịch tại các đảo phía Tây Thái Bình Dương, các nước Bắc Á, Đông Nam Á... trong đó có Việt Nam. 



Ở Việt Nam, trong những năm 80 và đầu thập kỷ 90, tỷ lệ mắc bệnh khá cao (7/100.000 dân). Nhưng từ năm 1993, nhất là từ năm 1997, khi văcxin viêm não Nhật Bản được đưa vào dự án Tiêm chủng mở rộng cho trẻ em lứa tuổi 1-5, tỷ lệ mắc bệnh đã giảm đáng kể. Bệnh có thể xuất hiện rải rác quanh năm, nhưng vào các tháng 5, 6 và 7, tỷ lệ mắc bệnh đặc biệt tăng cao. Trong khi nhiều bậc cha mẹ lại không biết được nguyên nhân cũng như triệu chứng của bệnh. Xin cung cấp tới bạn đọc những hiểu biết cần thiết nhất về căn bệnh nguy hiểm này để các bạn có cách phòng tránh và xử trí kịp thời. Viêm não Nhật Bản là bệnh gì? Đây là một bệnh nhiễm trùng cấp tính gây tổn thương hệ thần kinh trung ương. Virus viêm não Nhật Bản chính là tác nhân gây bệnh. Bệnh gặp chủ yếu ở trẻ em dưới 15 tuổi, đặc biệt nhóm nguy cơ cao nhất là trẻ ở lứa tuổi 2-6 (chiếm 75% tổng số trẻ mắc bệnh). Phương thức lây truyền Khởi đầu từ các ổ chứa virus mà lợn là động vật đóng vai trò chính. Khi muỗi hút máu của lợn có chứa virus và sau đó đốt người sẽ truyền virus sang người. Đây là con đường duy nhất khiến lây nhiễm bệnh viêm não Nhật Bản. Cho tới nay chưa thấy có sự lây truyền bệnh từ người sang người. Cần lưu ý là: Sau khi bị nhiễm virus viêm não Nhật Bản, lợn không bị bệnh, nhưng nguy hiểm ở chỗ nó trở thành kho chứa, duy trì virus trong thiên nhiên, đồng thời lại là nguồn cung ứng quan trọng nhất cho muỗi đưa virus viêm não Nhật Bản lây sang người. Có nhiều loài muỗi có khả năng truyền bệnh, nhưng chủ yếu vẫn là hai loài muỗi Culex Tritaeniorhynchus và Culex vishnui. Hai loài muỗi này thường sống ở ruộng lúa nước và chập choạng tối sẽ bay đến nơi có người và súc vật sinh sống để hút máu. Biểu hiện của bệnh Bệnh khởi đầu với biểu hiện sốt và thường là sốt rất cao (39-40oC). Người bệnh còn có các biểu hiện kèm theo như rét run, đau đầu, mệt lả, buồn nôn hoặc nôn. Giai đoạn này kéo dài từ 1 đến 6 ngày. Tiếp đến là các biểu hiện rất điển hình như tiếp tục sốt cao kèm co giật, rối loạn ý thức, kích thích, vật vã, ngủ gà, lơ mơ, hôn mê rồi đau đầu, cứng gáy, tay chân quờ quạng, mất nước. Hậu quả nặng nề Viêm não Nhật Bản là một trong những bệnh để lại di chứng đặc biệt nặng nề. Bệnh gây tử vong cao (10-20%) hoặc di chứng thần kinh lớn như động kinh, giảm học lực, đần độn, liệt, thất ngôn. Các di chứng thần kinh như vậy thường chiếm hơn 50% người bị mắc bệnh, thường gây tàn phế, mất khả năng lao động, để lại gánh nặng cho gia đình và xã hội. Hướng xử trí Nguyên tắc buộc phải tuân thủ là tất cả các bệnh nhân viêm não Nhật Bản đều phải được điều trị tại bệnh viện. Trong khi chờ đợi, trẻ sốt cao phải được uống thuốc hạ sốt như Paracetamon, liều 15mg/kg cân nặng/lần, tối đa uống 4 lần/ngày. Có thể phối hợp chườm khăn mát ở trán và bẹn, chú ý tuyệt đối không chườm đá lạnh. Trẻ phải được đưa đến bệnh viện hay cơ sở y tế gần nhất ngay lập tức nếu sốt cao quá 12 giờ liên tục hoặc có các dấu hiệu như nôn vọt, cứng gáy, rối loạn ý thức... Phòng bệnh Việc đưa trẻ tới bệnh viện và được xử lý kịp thời sẽ giảm thiểu tối đa các di chứng của bệnh viêm não Nhật Bản, nhưng nếu không thì khả năng tàn phế suốt đời là vô cùng lớn. Vì vậy, việc phòng bệnh sẽ là giải pháp tối ưu hơn cả. Trước hết, cần vệ sinh môi trường sạch sẽ, thoáng đãng. Loại bỏ các ổ nước tù đọng quanh nơi sinh hoạt, diệt bọ gậy để muỗi không có điều kiện sinh sôi. Nếu gia đình có khu vực chuồng trại chăn nuôi thì cần được vệ sinh thường xuyên. Khi ngủ phải nằm màn, ngoài ra cần phun thuốc diệt muỗi. Nhưng biện pháp phòng bệnh hữu hiệu nhất là tiêm văcxin phòng viêm não Nhật Bản nhằm tạo miễn dịch chủ động. Liệu trình tiêm phòng cần đủ 3 liều: 2 mũi đầu cách nhau 1-2 tuần, mũi thứ 3 nhắc lại sau 1 năm. Văcxin viêm não Nhật Bản bắt đầu tiêm khi trẻ được 1 tuổi. Các phản ứng nhẹ sau tiêm có thể là sưng đỏ tại chỗ, đau, sốt, nhức đầu. Các dấu hiệu này sẽ tự hết nhiều nhất sau vài ngày. Hầu như các phản ứng phụ nặng nề là rất hiếm gặp. Trẻ cần được tiêm chủng đúng lịch trình vì nếu không hiệu lực của văcxin, khả năng tạo miễn dịch của trẻ sẽ giảm, đôi khi còn mất tác dụng. Mọi lý do tạm hoãn tiêm chủng đều phải có ý kiến của bác sĩ, thông thường chống chỉ định tiêm văcxin khi trẻ sốt cao, loạn dưỡng nặng, đang bị tim mạch, thận, gan giai đoạn cấp tính, đang tiến triển, trẻ quá mẫn cảm hoặc dị ứng với văcxin. KIỀU NGA (Với sự cố vấn và hỗ trợ thông tin của Bác sĩ Nhi khoa Nguyễn Trung Hà, Bệnh viện Việt Pháp, Hà Nội  

Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2013

Gần đây, tại nước ta bỗng xuất hiện và lan rất nhanh một bệnh sốt phát ban kiểu mới còn được gọi là Rubella hay bệnh sởi Đức. Vậy Rubella có phải là bệnh sởi mà chúng ta vẫn thường gặp ở trẻ nhỏ?


 Bệnh sởi Thường gặp ở trẻ từ 1 tuổi trở lên, thời gian nung bệnh từ 7-10 ngày. Bệnh khởi phát trong 2-3 ngày với các triệu chứng: sốt đột ngột từ 38 độ C trở lên, mắt ướt, kèm nhèm, ho, chảy nước mũi, tiêu chảy... Khi bệnh toàn phát thì sốt cao 38,5-39 độ C, li bì, mệt mỏi, các ban sởi dày, mịn, xuất hiện đầu tiên ở sau tai, lan ra mặt, cổ xuống thân mình, tứ chi trong 1-2 ngày. Bệnh sẽ lui khi hết sốt, ban bay dần theo trình tự mọc và để lại vết thâm trên da. Bệnh sởi hay để lại nhiều biến chứng khi bệnh toàn phát hoặc lui bệnh như: viêm phổi, viêm phế quản... có thể gây tử vong, nhất là ở trẻ dưới 1 tuổi; viêm tai giữa, viêm xoang, viêm răng lợi (nếu nặng bị cam tẩu mã); tiêu chảy có thể gây mất nước dẫn đến tử vong; suy dinh dưỡng; viêm loét giác mạc; lao và các bệnh nhiễm trùng khác. Bệnh sởi đã có vắc-xin tiêm phòng, đặc biệt trẻ em dưới 1 tuổi đã được tiêm phòng đầy đủ. Bệnh Rubella Bệnh Rubella lây nhiễm qua đường hô hấp, có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nung bệnh từ 12-14 ngày, khởi phát với các triệu chứng sốt nhẹ, các dấu hiệu mắt ướt, ho, chảy nước mũi, ỉa lỏng... gần như không thấy. Khi bệnh toàn phát, các biểu hiện mới thấy rõ: mệt mỏi, sốt nhẹ, chảy nước dãi và rõ ràng nhất là nổi mẩn đỏ trên da giống như bệnh sởi. Trẻ ít khi nằm li bì, xung huyết mắt, da mặt, hạch to ở dọc hai bên cổ, không đau. Các nốt ban trên da dạng chấm đỏ rải rác, mọc không có quy luật và có thể thấy đau khớp. Khi bệnh lui thường hết sốt, ban bay nhanh không theo quy luật, không để lại các dấu vết trên da, hạch trở về bình thường muộn hơn, thường sau 1 tuần. Các biến chứng của Rubella chủ yếu là đau và sưng khớp, nhất là ở phụ nữ cao tuổi (chiếm 70%), viêm não, xuất huyết giảm tiểu cầu, viêm thần kinh, gây dị dạng thai nhi ở phụ nữ có thai. Phụ nữ mắc bệnh Rubella khi đang mang thai có khả năng sinh con bị các dị tật bẩm sinh như: các bệnh tim bẩm sinh, bệnh đầu nhỏ, chậm phát triển tâm thần, đục thủy tinh thể, điếc, các tổn thương xương dài... Rubella là một bệnh nhẹ, diễn biến lành tính, tỷ lệ tử vong và biến chứng rất thấp. Tuy nhiên, nó lại đặc biệt nguy hiểm với phụ nữ có thai, nhất là trong 3 tháng đầu. Nó có thể gây sẩy thai, dị tật thai nhi và bệnh Rubella bẩm sinh ở trẻ mới sinh. Những trẻ mắc Rubella bẩm sinh dễ gặp các biến chứng nặng nề như bại não, tổn thương phổi, mù mắt... Một số nước có quy định bắt buộc phá thai nếu người mẹ mắc Rubella trong 3 tháng đầu của thai kỳ. Rubella hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Cách chữa chủ yếu vẫn là cho bệnh nhân nghỉ ngơi tĩnh dưỡng và dùng các thuốc nâng cao thể trạng, đặc biệt là vitamin để tăng khả năng chống đỡ của cơ thể. Phòng ngừa Cách phòng ngừa đặc hiệu đối với bệnh Rubella là tiêm vắc-xin loại kết hợp phòng cả 3 bệnh rubella, sởi và quai bị. Sử dụng cho trẻ em trên 12 tháng tuổi và người lớn. Cần khuyến cáo những phụ nữ trong độ tuổi mang thai, hoặc dự định mang thai trong thời gian này nên đi chích ngừa bệnh. Sản phẩm tạo miễn dịch trong thời gian rất dài và tác dụng bảo vệ vẫn còn nếu người phụ nữ chích ngừa mang thai nhiều năm sau đó. Ngoài ra, có thể phòng bệnh bằng các biện pháp không đặc hiệu khác như mặc đủ ấm, ăn uống đảm bảo dinh dưỡng, cách ly và thực hiện các biện pháp phòng lây lan vì bệnh truyền nhiễm rất nhanh qua đường hô hấp. TS BÙI MẠNH HÀ 

Tỷ lệ trẻ mắc các bệnh do virus tăng trong mấy năm gần đây, hay xuất hiện khi thời tiết đổi mùa. Trong điều kiện bình thường cũng có những virus ký sinh trên đường hô hấp, tiêu hóa, chờ thời cơ để gây bệnh.


 Các loại virus hay gây sốt gồm Myxo virus, Coxackie, Entero, sởi, thủy đậu, viêm não Nhật Bản... Virus có thể lây từ người này sang người khác, đặc biệt là qua đường hô hấp, tiêu hóa... và gây thành dịch. Một trong các triệu chứng nổi bật của tình trạng nhiễm virus là sốt cao, thường là 38-39 độ C, thậm chí 40-41 độ C. Trong cơn sốt, trẻ thường mệt mỏi và ít đáp ứng với các loại thuốc hạ sốt thông thường như paracetamol. Khi hạ sốt, trẻ lại tỉnh táo, chơi bình thường. Các biểu hiện khác gồm đau mình mẩy (trẻ lớn đau cơ bắp, thường kêu đau khắp mình, trẻ nhỏ quấy khóc) đau đầu (có thể vẫn tỉnh táo, không kích thích, vật vã), viêm long đường hô hấp (ho, chảy nước mũi, hắt hơi, họng có thể đỏ). Rối loạn tiêu hóa: thường xuất hiện sớm nếu nguyên nhân gây sốt là virus đường tiêu hóa, cũng có thể xuất hiện muộn hơn vài ngày sau khi sốt với đặc điểm là phân lỏng, có chất nhầy, không có máu. Trẻ có thể viêm hạch, đặc biệt là các hạch ở vùng đầu, mặt, cổ thường sưng to, đau, có thể nhìn hoặc sờ thấy. Phát ban thường xuất hiện sau 2-3 ngày kể từ khi sốt, khi xuất hiện ban thì sẽ giảm sốt. Ngoài ra, trẻ có thể bị viêm kết mạc mắt, nôn. Thông thường, các triệu chứng nêu trên xuất hiện rất rầm rộ; sau 3-5 ngày sẽ giảm dần và mất đi, trẻ trở lại khỏe mạnh. Sốt virus chưa có thuốc đặc hiệu, chủ yếu là điều trị triệu chứng. Để hạ sốt, thường dùng paracetamol liều 10 mg/kg, 6 giờ một lần. Chườm trán cho trẻ bằng khăn mát, lau khô mồ hôi, lau người bằng nước ấm, để trẻ nằm nơi thoáng mát, mặc quần áo mỏng. Nếu trẻ sốt cao trên 38,5 độ C thì nên dùng thuốc hạ sốt kèm theo thuốc chống co giật theo chỉ định của bác sĩ, đặc biệt là những trẻ có tiền sử co giật khi sốt cao. Sốt cao có thể gây ra tình trạng mất nước, rối loạn cân bằng điện giải trong cơ thể. Nên dùng các thuốc có tác dụng bù nước và chất điện giải mất qua da do sốt như oresol, cháo muối nấu loãng. Vệ sinh sạch sẽ cho trẻ, nhỏ mắt, mũi bằng natriclorit 0,9%, tránh bội nhiễm vi khuẩn đường hô hấp. Cho trẻ ăn lỏng, dễ tiêu, giàu chất dinh dưỡng. Vệ sinh cơ thể cho trẻ sạch sẽ, tắm bằng nước ấm trong phòng kín. Phải đưa trẻ đến khám ngay tại trung tâm y tế khi có các dấu hiệu sau: - Sốt cao trên 38,5 độ C, đặc biệt là trên 39 độ C mà dùng thuốc hạ sốt không hiệu quả. -Lơ mơ, li bì, ngủ nhiều, xuất hiện co giật, đau đầu liên tục, tăng dần, buồn nôn, nôn khan nhiều lần, sốt kéo dài trên 5 ngày. ThS Đỗ Vinh Hoa, Sức Khỏe & Đời Sống  

Thứ Năm, 3 tháng 10, 2013

Đó là giai đoạn từ ngày thứ 3 đến thứ 6 của bệnh. Trẻ có thể trở nặng và sốc, dẫn đến tử vong nhanh nếu không được phát hiện kịp thời.



 Điều này đặc biệt nguy hiểm đối với các trường hợp điều trị tại nhà. Các bác sĩ chuyên khoa cho biết, khi trẻ được cho điều trị tại nhà, các bậc phụ huynh thường lơ là mất cảnh giác, không theo dõi sát sao diễn biến của bệnh nên một số trường hợp đáng tiếc đã xảy ra. Bác sĩ Nguyễn Thanh Hùng Trưởng khoa sốt xuất huyết Bệnh viện Nhi đồng 1 khuyến cáo: khi trẻ hết sốt mà có một trong các triệu chứng như: ói mửa nhiều, đau bụng, tay chân lạnh, bứt rứt, tím tái, vã mồ hôi, chảy máu mũi, chảy máu chân răng, nôn và đi tiêu ra máu... thì phải được đưa đến bệnh viện cấp cứu ngay, vì đây là những dấu hiệu trở nặng. Đến nay, sốt xuất huyết vẫn là bệnh rất dễ dẫn đến tử vong do trụy tim mạch, xuất huyết ồ ạt nếu không được phát hiện sớm và điều trị đúng. Việc điều trị quá trễ sẽ gây ra những biến chứng rất nguy hiểm như xuất huyết, nôn ra máu, tràn dịch màng phổi, tràn dịch màng tim, gây các biến chứng về mắt có thể làm cho bệnh nhân mù mắt đột ngột, nguy hiểm hơn là sốt xuất huyết có thể làm viêm cơ tim. So với trước đây, việc điều trị sốt xuất huyết hiện nay vẫn không có tiến bộ đáng kể nào; ngoài việc đã có phát đồ điều trị bệnh sốt xuất huyết cho người lớn; dịch truyền tốt hơn và lượng dịch truyền được tính toán chính xác hơn cho người lớn và trẻ em. Do đó, các chuyên gia khuyến cáo, khi phát hiện có dấu hiệu nghi ngờ bị mắc sốt xuất huyết, phải lập tức đến cơ sở y tế; vì chỉ có bác sĩ chuyên khoa mới có thể xác định đó có phải là dấu hiệu của bệnh sốt xuất huyết hay không và quyết định cách điều trị thích hợp. Tuyệt đối không nên tự ý uống kháng sinh, giác lễ, cạo gió bằng phương pháp dân gian vì sẽ gây nhiễm trùng. Những dấu hiệu ban đầu có thể nghi ngờ bị nhiễm sốt xuất huyết bao gồm: sốt cao 39-40 độ C kéo dài trên 2 ngày, người lừ đừ, chảy máu cam, chảy máu chân răng không rõ lý do, trên da xuất hiện những chấm đỏ hay vết bầm. Sốt đến ngày thứ 3 thì bị nôn ra chất có màu nâu đen như váng cà phê, hay nôn ra máu mặc dù rất ít. Các thống kê mới nhất cho thấy dịch sốt xuất huyết ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long đã tạm thời được khống chế. Ở TP.HCM, theo ông Nguyên Đắc Thọ, Phó giám đốc Trung tâm y tế dự phòng, cho đến thời điểm này vẫn có thể kết luận là dịch sốt xuất huyết chưa bùng phát. Tuy nhiên, tại một số bệnh viện, số bệnh nhân điều trị nội trú và nhập viện đã bắt đầu tăng. Cụ thể, tại quận Bình Thạnh (một địa bàn "nóng" về sốt xuất huyết của TP.HCM), từ đầu tháng 7 đến nay mỗi ngày có khoảng 2-3 ca sốt xuất huyết được đưa vào Bệnh viện nhân dân Gia Định, trong khi 2 tháng trước chỉ có tổng cộng 40 người. Nếu so với các năm 2002- 2003, tỷ lệ mắc sốt xuất huyết ở Bình Thạnh hiện đã tăng 2-3 lần. Bác sĩ Văn Bích, Trưởng khoa Nhi Bệnh viện nhân dân Gia Định tiên đoán, nếu tình hình dịch bệnh vẫn tiến triển như hiện nay thì số ca mắc bệnh ở quận này chắc chắn sẽ tương đương năm 2004 - năm đỉnh cao của chu kỳ sốt xuất huyết - hoặc hơn chứ không giảm. Tại 2 bệnh viện Nhi đồng, từ đầu tháng 7 đến nay, số bệnh nhi sốt xuất huyết nhập viện cũng tăng đáng kể. Bệnh viện Nhi đồng 1 mỗi ngày có khoảng 40 ca điều trị nội trú, nhiều trường hợp nặng. 

Tháng 3 là mùa bùng phát của dịch thủy đậu (trái rạ). Vài tuần qua, tại TPHCM đã xuất hiện rải rác các ca thủy đậu
Thống kê tình hình dịch tễ tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 - THCM 5 năm qua (2001-2005) cho thấy thủy đậu xảy ra quanh năm, nhưng thời điểm phát bệnh cao nhất là từ tháng 2 đến tháng 6, trong đó tháng 3 là mùa bùng phát của dịch thủy đậu. Chỉ riêng tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 trung bình có khoảng từ 80 đến 100 ca thủy đậu/tháng từ tháng 6 đến tháng 10, nhưng từ tháng 12 và những tháng đầu năm số ca bệnh tăng dần, đỉnh điểm là hơn 500 ca trong tháng 3 năm 2004 và 2005.


Có thể gây biến chứng ở thần kinh, phổi
Thủy đậu lây lan dễ dàng qua không khí, hít phải nước bọt khi bệnh nhân hắt hơi, ho hoặc tiếp xúc với mụn nước của người bị bệnh. Bệnh cũng có thể truyền từ mẹ sang con nếu người mẹ bị thủy đậu trong lúc mang thai. Cần lưu ý là khi nhiễm virus thủy đậu bệnh nhân thường không có triệu chứng gì trong 2 tuần đầu, nhưng 2-4 ngày trước khi phát bóng nước (nốt rạ), bệnh đã có khả năng lây nhiễm. Ngay cả khi bệnh nhân thủy đậu đã phát bóng nước được 6 ngày, virus gây bệnh vẫn có thể lây lan cho người lành.
Thủy đậu gây ra do virus varicella zoster. Phần lớn bệnh nhân là trẻ từ 5-11 tuổi, nhưng bệnh cũng có thể xảy ra ở người lớn. Đặc trưng của bệnh thủy đậu là ngứa, phát ban ngoài da, ban sẩn có mụn nước thường kèm theo sốt. Người bệnh thường có dấu hiệu ban đầu là sốt, mệt mỏi, biếng ăn, đau cơ. Sau đó các nốt rạ xuất hiện ở da đầu, mặt, lan xuống thân và tay chân với số lượng từ 300 đến cả ngàn nốt gây ngứa ngáy, đau nhức rất khó chịu. Bệnh thường diễn biến nhẹ, tuy nhiên nếu không được chăm sóc đúng cách, bệnh có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm từ bội nhiễm vi khuẩn đến viêm não. Nếu bệnh nhân bị bội nhiễm da có thể để lại sẹo vĩnh viễn. Thủy đậu có thể gây biến chứng đến hệ thần kinh trung ương và gây viêm phổi dẫn đến tử vong. Bên cạnh đó, một biến chứng về sau của bệnh thủy đậu là Zona (còn gọi là giời leo), thường gây đau nhức nhiều hơn so với bệnh thủy đậu và có thể kéo dài trong nhiều năm.
Phòng bệnh: cách ly bệnh nhân và chủng ngừa
Điều quan trọng khi chăm sóc bệnh nhân thủy đậu là phải giữ vệ sinh, tránh ủ kín, theo dõi thường xuyên để phát hiện sớm những dấu hiệu nghi ngờ biến chứng như sốt cao, mụn nước ửng đỏ xung quanh hay có mủ... Trong gia đình, trường học, công sở có người mắc bệnh thủy đậu, để phòng tránh lây lan cho cộng đồng, việc cách ly bệnh nhân (7-10 ngày) là hết sức quan trọng. Vì thế, nếu trẻ ở độ tuổi đi học bị mắc bệnh thì buộc phải nghỉ học và người lớn thì phải nghỉ làm từ 1-2 tuần. Tuy nhiên, điều này vẫn không bảo đảm ngừa được bệnh cho người khác, vì virus có thể lây lan ngay cả trước khi phát mụn nước và sau khi mụn nước đã lành. Do đặc tính rất dễ lây lan của bệnh với tỉ lệ lây nhiễm lên đến 90%, muốn phòng bệnh hiệu quả chúng ta cần chủ động phòng bệnh cho mình và người thân càng sớm càng tốt.
Để không mắc bệnh, biện pháp tích cực nhất và hiệu quả nhất vẫn là chủng ngừa vắc-xin. Những nghiên cứu trên thế giới cho thấy 90% đối tượng chưa chủng ngừa thủy đậu có khả năng mắc bệnh. Điều này có nghĩa là một người chưa được chủng ngừa thủy đậu nếu tiếp xúc với người mang mầm bệnh hoặc bệnh nhân thủy đậu thì hầu như chắc chắn sẽ bị lây bệnh.
Việc tiêm ngừa vắc-xin thủy đậu không chỉ giúp bản thân bạn tránh được bệnh mà còn ngăn chặn việc lây lan cho những người xung quanh, về lâu dài sẽ giảm được sự bùng phát dịch thường niên. Vắc-xin ngừa thủy đậu tạo được miễn nhiễm lâu dài gần như suốt đời, có tính an toàn cao, ít tác dụng phụ (chỉ khoảng 5% sốt nhẹ sau khi chích). Trẻ từ 9 tháng tuổi đến 12 tuổi chỉ cần tiêm một liều dưới da. Trẻ trên 13 tuổi và người lớn tiêm 2 liều, mỗi liều cách nhau từ 4-8 tuần. Tại TPHCM, phụ huynh có thể liên hệ tiêm ngừa ở các bệnh viện, Viện Pasteur và trung tâm y tế dự phòng quận, huyện.
Bác sĩ Trương Hữu Khanh (Trưởng Khoa Nhiễm BV Nhi Đồng 1)

Thứ Tư, 2 tháng 10, 2013

“1/3 tổng số bệnh nhi đến khám trong những ngày này bị các căn bệnh do virus. Đây đang là mùa của loại bệnh này” - bác sĩ Nguyễn Văn Lộc, phó giám đốc Bệnh viện Nhi T.Ư, nói.Mùa virusTheo ông Lộc, trong một tuần qua số lượng bệnh nhi đến khám và nhập viện do thủy đậu và các bệnh liên quan đến đường hô hấp tăng vọt. Riêng ngày 22-2, tại phòng khám 106, chuyên khoa lây Bệnh viện Nhi T.Ư đã có cả chục trẻ được kết luận là mắc bệnh thủy đậu.


Thủy đậu là bệnh có thể xuất hiện ở bất kỳ nhóm tuổi nào nếu chưa được miễn dịch, nhưng hay gặp nhất ở trẻ em từ 2-6 tuổi và thời điểm hay gặp là mùa xuân, độ ẩm không khí cao, thời tiết nóng lạnh thất thường.
Hiện trung bình mỗi ngày có khoảng 900-1.200 bệnh nhi đến Bệnh viện Nhi T.Ư khám bệnh, nhưng trong thời điểm này có tới 1/3 trong số các cháu mắc các chứng bệnh liên quan đến đường hô hấp và do virus (như adeno virus, cúm hay sởi), cao hơn hẳn so với cùng kỳ tháng trước.
Thống kê của Sở Y tế Hà Nội tại một số trường tiểu học và THCS (Nghĩa Tân, Dịch Vọng, Mai Dịch, Quảng An...) cũng cho thấy từ tháng mười hai đến nay đã có gần 500 học sinh bị sốt do virus. Kết quả xét nghiệm bệnh phẩm tại Viện Vệ sinh dịch tễ T.Ư cho thấy các cháu nhỏ này mắc rubella, adeno virus, thủy đậu, quai bị - những bệnh thường xuất hiện vào mùa xuân.
Tại Bệnh viện Xanh Pôn, số bệnh nhi mắc các bệnh liên quan đến đường hô hấp như ho, viêm phế quản, viêm phổi cũng tăng mạnh. Bác sĩ Đinh Thị Loan, phòng khám nhi, khẳng định mùa xuân- hè là thời gian trẻ dễ mắc bệnh sốt virus, nhưng trong mấy năm trở lại đây và nhất là năm nay, số bệnh nhi tăng đột biến.
Phòng bệnh thế nào?
Theo bác sĩ Lộc, thủy đậu là bệnh lành tính, nếu không bị nhiễm trùng thì có thể khỏi nhanh mà không để lại di chứng. Tuy nhiên, những trường hợp phụ huynh không giữ gìn, để trẻ nhỏ gãi lung tung do ngứa, gây chảy nước có thể dẫn đến nhiễm trùng huyết, thậm chí có thể tử vong.
Do đó, ngay khi xuất hiện những nốt mẩn đỏ đầu tiên, trẻ cần được cách ly, dùng nước oxy già rửa vết loét, không mặc quần áo dày cho trẻ để tránh bị cọ xát, chảy nước ở mụn đỏ.
Một ngộ nhận khác của nhiều phụ huynh là thấy con trẻ bị thủy đậu thường kiêng triệt để gió và nước, không tắm cho trẻ. Bác sĩ Nguyễn Văn Lộc cho hay trẻ bị thủy đậu cần được vệ sinh sạch sẽ, tốt nhất là tắm cho trẻ bằng nước lá đắng (như lá ổi), nhưng tránh làm trợt các vết loét.
Phụ huynh cũng cần cho các cháu ăn uống tốt và theo dõi trong các trường hợp trẻ tự nhiên sốt cao, đột nhiên tím tái, khó thở... phải đưa các cháu đến cơ sở y tế. Hiện tại VN đã có văcxin phòng thủy đậu cho trẻ. Còn với adeno virus, ông Lộc cho hay đây là loại virus có nhiều type và hiện vẫn chưa biết type nào thường gặp ở VN. 
 TP.HCM: rất ít trường hợp nhiễm adeno virus
BS Trương Hữu Khanh - trưởng khoa nhiễm BV Nhi Đồng 1 - cho biết tại TP.HCM rất ít trường hợp nhiễm adeno virus.
Virus này làm cho người nhiễm bệnh có các dấu hiệu của viêm đường hô hấp trên: viêm họng, sốt, viêm thanh quản, đau mắt đỏ, sưng hạch, phát ban. Đây chỉ là bệnh lý thông thường khi đổi mùa, không cần điều trị đặc hiệu.
Lưu ý những người nhiễm virus ở xứ lạnh dễ bị biến chứng, còn ở những vùng nhiệt đới không nguy hiểm. Nói chung, bệnh đều khỏi trừ những người có cơ địa quá nhiều bệnh mãn tính và suy nhược cơ thể trầm trọng. Quan trọng là theo dõi bệnh sớm, tránh để bị biến chứng.                                                                      
* Bộ Y tế đã thông báo quyết định của Thủ tướng về việc thành lập Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống đại dịch cúm ở người do Bộ trưởng Bộ Y tế Trần Thị Trung Chiến làm trưởng ban.
Ban chỉ đạo có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch phối hợp hoạt động của các bộ, ngành trong phòng chống đại dịch cúm ở người; tổ chức thực hiện và đôn đốc, kiểm tra các bộ, ngành, địa phương thực hiện kế hoạch phòng chống đại dịch cúm ở người.


Năm nay, dù đang ở thời điểm mùa khô nhưng bệnh sốt xuất huyết (SXH) vẫn diễn ra đều đặn và có chiều hướng gia tăng. Hiện tại, khoa Sốt xuất huyết của Bệnh viện nhi đồng I (TP.HCM) có 49 bệnh nhi mắc bệnh SXH đang điều trị, trong đó có 22 trẻ bệnh ở mức độ nặng (độ III). Từ đầu năm đến nay, tại TP.HCM đã có hơn 1.200 người mắc bệnh SXH. 



Trước hiện tượng này, bác sĩ Phan Văn Nghiệm - Trưởng phòng nghiệp vụ y (Sở Y tế TP.HCM) cho biết:

- Đặc trưng của bệnh SXH là xảy ra nhiều vào mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 10 hằng năm), khi mật độ lăng quăng, muỗi tăng cao. Tuy nhiên, hiện "quy luật" đó đã bị phá vỡ. Do có sự thay đổi về cơ cấu bệnh tật, do môi trường... bệnh SXH có thể diễn ra rải rác quanh năm, kể cả mùa khô. Bằng chứng là từ đầu năm đến nay, các bệnh viện tại TP.HCM tiếp nhận nhiều trường hợp mắc bệnh SXH tại TP.HCM và các tỉnh lân cận chuyển đến. Ngoài ra, hiện nay còn có sự thay đổi nữa là bệnh SXH không chỉ "tập trung" ở trẻ em mà nguời lớn mắc phải cũng rất nhiều. TP.HCM là một trong những địa phương có số người mắc bệnh SXH cao do mật độ lăng quăng, muỗi cao, trong đó có nguyên nhân do các công trình xây dựng dở dang, gây ứ đọng nước, tạo điều kiện cho lăng quăng phát triển...
* Những biểu hiện để nhận biết và phòng bệnh SXH?
- Bác sĩ Phan Văn Nghiệm: Dấu hiệu để nhận biết trẻ bị SXH đó là: trẻ sốt cao, sốt liên tục 2 - 3 ngày, uống thuốc hạ sốt vài giờ sau vẫn bị sốt trở lại, trẻ vật vã, bứt rứt, đau đầu, đau bụng, xuất huyết ngoài da, chảy máu cam, có thể nôn ói ra máu... Đặc biệt, cần lưu ý, trong những ngày thứ 3 đến ngày thứ 6 sau khi mắc bệnh, trẻ thường hết sốt, người lớn nhầm tưởng bệnh đã lui, nhưng lúc này dễ xảy ra nguy kịch cho trẻ (sốc, trụy mạch dẫn đến tử vong). Tay, chân lạnh là dấu hiệu để nhận biết trước khi trẻ bị sốc. Hiện nay, chưa có thuốc đặc trị bệnh SXH mà chỉ điều trị triệu chứng, biến chứng.
Đối với bệnh SXH (bệnh do muỗi đốt gây nên), việc phòng bệnh là rất quan trọng. Nếu người dân ý thức tốt việc phòng bệnh, không để lăng quăng, muỗi có "đất" sống thì sẽ tránh được bệnh. Cần dọn dẹp môi trường chung quanh, lưu ý các chậu hoa, bình, lu, bể... là điều kiện phát sinh lăng quăng, muỗi. Những nơi có nhiều muỗi cần cho trẻ ngủ mùng, kể cả ban ngày. Khi trẻ có dấu hiệu mắc bệnh, nhất là sốt cao cần đưa đến cơ sở y tế gần nhất để được xử lý, không để trẻ sốt cao lâu, co giật gây tác hại cho trẻ...

Thứ Ba, 1 tháng 10, 2013

Bệnh sởi là một bệnh nhiễm virus cấp tính ở trẻ nhỏ với hai dấu hiệu chính là: sốt cao, nốt ban đỏ khắp cơ thể và có ít nhất một trong những dấu hiệu sau đây:

- Ho
- Chảy nước mũi
- Miệng đỏ và đau, có nốt ban trắng ở niêm mạc miệng (hạt koplik)
- Mắt đỏ

Sau 8-12 ngày bị nhiễm virus, xuất hiện các dấu hiệu đầu tiên. Các dấu hiện bệnh xuất hiện tuần tự như sau: sốt cao, ho, mắt đỏ và có các nốt trắng ở miệng. Các dấu hiệu trên xuất hiện 3-4 ngày thì nốt ban đỏ xuất hiện, thường bắt đầu từ sau tai và trước trán, sau đó lan khắp cơ thể.
Ban đỏ xuất hiện sau 1-2 ngày thì nốt trắng ở miệng biến mất. Sốt thuyên giảm sau 3-4 ngày có ban đỏ và ban biến mất sau 5-6 ngày, để lại trên da những vết tím trong một thời gian. Trong giai đoạn phục hồi, da thường đóng vẩy. Thời gian phục hồi có thể kéo dài hàng tháng. Trong thời kỳ này trẻ dễ dàng bị mắc các bệnh nhiễm khuẩn khác và sức đề kháng của cơ thể giảm.
Bước xử trí đầu tiên sau khi chẩn đoán sởi là phân loại xem trẻ mắc sởi thể nhẹ (không có biến chứng) hay thể nặng (có biến chứng).
Hỏi bà mẹ để biết trẻ có các dấu hiệu sau đây hay không: ho, thở nhanh, khó thở, thở rít (thì hít vào), co giật, ngủ li bì, tai chảy dịch, tiêu chảy, nôn, bú kém hoặc bỏ bú.
Thầy thuốc khám (quan sát và lắng nghe) để tìm các dấu hiệu sau đây: thở nhanh, rút lõm lồng ngực, mất nước, suy dinh dưỡng nặng, tổn thương giác mạc mắt, màng nhĩ đỏ, tai chảy dịch, loét niêm mạc.
Sởi nặng thường xảy ra ở những trẻ chưa được tiêm chủng và bị:
- Thiếu vitamin A.
- Sống ở nơi đông đúc.
- Dưới 1 tuổi.
- Suy dinh dưỡng nặng.
- Suy giảm miễn dịch (nhiễm HIV hoặc mắc AIDS).
- Bị lây sởi từ người khác trong nhà.
Xử trí trẻ bị sởi nhẹ
Trẻ bị sởi nhẹ là chưa có biến chứng và có thể điều trị tại nhà.
Nuôi dưỡng: Cần tích cực động viên trẻ ăn và uống. Nếu trẻ còn bú mẹ, cần tiếp tục cho bú. Đối với những trẻ ăn sam, cần tăng cường thức ăn giàu năng lượng. Cho trẻ ăn từng ít một và tăng thêm một số thức ăn. Thức ăn nên nấu mềm, dễ ăn. Cho trẻ uống nhiều nước, nhất là các loại nước hoa quả tươi để bổ sung vitamin. Cho trẻ uống một viên nang vitamin A (trẻ trên 1 tuổi uống loại viên 200.000 đv, dưới 1 tuổi cho uống 100.000 đv). Đưa cho bà mẹ viên thứ hai và dặn cho trẻ uống vào ngày hôm sau.
Nếu trẻ sốt (từ 39oC trở lên), hoặc quấy khóc vật vã nhiều, hướng dẫn bà mẹ cho trẻ dùng paracetamol. Nếu trẻ bị sốt (nhưng không có thở nhanh), có thể cho dùng thuốc hạ sốt đông y, ví dụ như chanh hấp mật ong. Nếu trẻ bị tắc mũi, có thể nhỏ mũi bằng nước muối sinh lý. Nhỏ nước muối sinh lý vào một mảnh vải bông sạch mềm. Cuộn mảnh vải thành hình sâu kèn, rồi đặt nhẹ nhàng vào lỗ mũi trẻ.
Giữ gìn vệ sinh răng miệng cho trẻ bằng cách thường xuyên dùng gạc sạch lau rửa miệng bằng nước sạch pha một ít muối hoặc nếu có vết loét thì chấm thuốc tím 1%. Lau mắt cho trẻ hằng ngày bằng vải bông sạch thấm với nước sạch. Nhỏ mắt bằng thuốc nhỏ mắt chloramphenicol 0,4%.
Nếu bệnh tình không đỡ, trẻ ốm nặng hơn, có dấu hiệu của biến chứng, trẻ không ăn, trẻ nhỏ bỏ bú, bị đau tai, niêm mạc miệng bị loét nặng, cần đưa trẻ đến các cơ sở y tế để được can thiệp kịp thời. Đối với các cháu đã khỏi vẫn cần được theo dõi cẩn thận và thường xuyên đưa đến y tế kiểm tra để kịp thời phát hiện các bệnh nhiễm khuẩn khác hay mắc sau sởi.
Xử trí trẻ bị sởi nặng
Tất cả các trẻ bị sởi nặng cần được điều trị tại bệnh viện. Về cơ bản cũng điều trị giống như sởi nhẹ. Ngoài ra cần phải điều trị các biến chứng và các bệnh nhiễm khuẩn kèm theo như viêm phổi, viêm thanh quản, viêm khí quản do vi khuẩn, tiêu chảy, tổn thương giác mạc, viêm tai cấp, suy dinh dưỡng, có nguy cơ bị mù, viêm não mất nước...
Trẻ bị biến chứng sởi nặng thường có các dấu hiệu: ho kèm thở nhanh, thở rít (thì hít vào), mất nước, phân có máu, cân nặng thấp, có những sẩn trắng hoặc vết loét ở giác mạc, ngủ li bì hoặc co giật.
Ngày nay, nhờ thành quả tiêm chủng mở rộng, trong nhiều năm qua số trẻ bị mắc sởi đã giảm hẳn. Các thể bệnh nặng và biến chứng hầu như rất hiếm gặp.
Để phòng bệnh sởi, cách tốt nhất là cho trẻ tiêm văcxin phòng sởi theo lịch tiêm chủng do Bộ Y tế quy định: mũi 1 khi trẻ được 9-11 tháng tuổi; tiêm nhắc mũi 2 khi trẻ vào lớp 1 (6 tuổi).

Bệnh tay, chân, miệng (TCM) đang lây lan nhanh ở nhiều địa phương như Ninh Thuận, TP.HCM, Qui Nhơn, Kiên Giang và còn có thể lan ra cả các tỉnh phía Bắc... Chuyên gia y tế trả lời mọi thắc mắc của bạn đọc về bệnh này. Mời bạn đọc có nhu cầu tìm hiểu thêm về bệnh này đặt câu hỏi...

Nhiễm bệnh sau bao lâu thì khởi phát triệu chứng ?
Thời gian ủ bệnh (“incubation period“) khoảng 3 đến 7 ngày. Trong bệnh TCM thì sốt là triệu chứng thường biểu hiện trước tiên.
Làm thế nào biết trẻ mắc bệnh Tay Chân Miệng (TCM)?

Biểu hiện sớm nhất của bệnh là sốt nhẹ, chán ăn, mệt mỏi. Đặc biệt, bệnh rất dễ nhầm lẫn với các bệnh khác như viêm da bóng nước do nhiễm khuẩn, bệnh do nhiễm siêu vi hoặc bệnh thủy đậu.
Trong 1 - 2 ngày sẽ xuất hiện những nốt hồng ban đường kính vài mm nổi trên nền da bình thường, sau đó trở thành bóng nước. Ở miệng có dạng vết loét, có đường kính từ 4 – 8mm, thường ở phía trong miệng, ở trên lưỡi , tại vòm miệng hoặc ở lợi răng làm trẻ nuốt đau. Với triệu chứng này, cha mẹ thường nhầm lẫn với với bệnh viêm loét miệng thông thường. Những bóng nước ngoài da thường xuất hiện ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, cẳng chân hoặc ở cánh tay.
Trẻ nhũ nhi có thể có ban dạng sẩn vùng mông hoặc nơi quấn tã lót.
Trong giai đoạn cấp, ngoài những dấu hiệu trên, đôi khi bệnh kèm theo triệu chứng như hạch ở cổ, hạch dưới hàm, ho, sổ mũi, tiêu chảy, buồn nôn và nôn.
Trong giai đoạn diễn tiến, khi siêu vi gây bệnh xâm nhập hệ thần kinh trung ương, sẽ xuất hiện triệu chứng rối loạn tri giác như lơ mơ, li bì, mê sảng hay co giật.
Trẻ có thể tử vong hoặc hồi phục sau một thời gian điều trị nhưng vẫn còn những rối loạn tâm thần kinh kéo dài.
Bác sĩ chẩn đoán bệnh TCM như thế nào?
Thường thì bác sĩ có thể phân biệt được TCM và tác nhân khác gây đau lỡ miệng là nhờ dựa vào tuổi của bệnh nhân, lời khai của bố mẹ bệnh nhi về các triệu chứng điển hình cùng sự hiện diện của những nốt ban và đau khi thăm khám.
Có thể, bác sĩ sẽ lấy mẫu phết họng hoặc mẫu phân của bệnh nhân gửi đến phòng xét nghiệm để nhằm xác định loại enterovirus nào là tác nhân gây bệnh. Do xét nghiệm thường mất từ 2 đến 4 tuần mới có kết quả trả lời, nên bác sĩ điều trị thường không yêu cầu làm các xét nghiệm.
Bệnh TCM có giống như bệnh Long mồm lở móng ở súc vật?
Hoàn toàn khác nhau và do những virut khác nhau gây ra. Bệnh TCM thường bị hiểu nhầm với bệnh long mồm lở móng gia súc như trâu bò, cừu, heo.
Tác nhân gây bệnh TCM ?
Là virut thuộc nhóm enteroviruses (virut đường ruột). Tác nhân thường là coxsackievirus A16; đôi khi do enterovirus 71 hoặc một loại virut khác trong nhóm enteroviruses 

Nhóm virut Đường ruột (enterovirus) gồm: polioviruses, coxsackieviruses, echoviruses và các enteroviruses khác.
Bệnh TCM có nghiêm trọng không?
Thường thì không gây bệnh nghiêm trọng.
Bệnh TCM do nhiễm coxsackievirus A16 là một bệnh nhẹ, gần như tất cả bệnh nhân sẽ bình phục sau 7 – 10 ngày mà không cần dùng thuốc điều trị. Thường không gây biến chứng.
Nhiễm coxackiesvirus A16 rất hiếm khi có biến chứng gây viêm màng não do virut (viêm màng não vô khuẩn), ở những bệnh nhân có sốt, nhức đầu, cứng gáy, đau lưng cần phải nhập viện để theo dõi trong vài ngày.
Tác nhân EV71 có thể sẽ gây viêm màng não, nhưng cũng hiếm khi gây bệnh cảnh nặng như viêm não hoặc liệt mềm dạng polio. Viêm não do EV71 gây ra có thể dẫn tới tử vong. Những trường hợp viêm não tử vong đã xảy ra trong các vụ dịch TCM tại Malaysia năm 1997 và Đài loan năm 1998.
Bệnh TCM có lây lan không?
Có, bệnh TCM lây truyền ở mức độ trung bình.
Bệnh lây truyền từ người qua người khác do tiếp xúc trực tiếp với nước mũi, miệng, nước bọt, dịch của mụn dộp hoặc phân của người nhiễm. Trong tuần lễ đầu tiên của bệnh rất dễ lây cho người khác.
TCM không lây cho súc vật và con người không bị nhiễm từ súc vật hay thú nuôi cảnh.
Ai là nhóm nguy cơ bị nhiễm TCM?
Bệnh TCM thường chủ yếu xảy ra ở trẻ em dưới 10 tuổi, nhưng cũng xảy ra cả ở người lớn. Mọi người đều có nguy cơ bị nhiễm, nhưng không phải ai nhiễm cũng phát bệnh.
Trẻ nhỏ, trẻ em, và thiếu niên cảm nhiễm nhiều với virut và dễ phát bệnh, bởi vì chúng có ít kháng thể và miễn dịch kém hơn so với người lớn do không có quá trình phơi nhiễm trước đó.
Sau khi nhiễm sẽ có miễn dịch đặc hiệu đối với virut gây nhiễm, nhưng vẫn có thể nhiễm lần hai với loại virut khác trong cùng nhóm enterovirus.
Nguy cơ gì xảy ra cho phụ nữ có thai khi họ có tiếp xúc với trẻ em đã nhiễm TCM?
Bởi vì nhóm enteroviruses kể cả virut gây bệnh TCM rất thường gặp, do vậy phụ nữ có thai rất dễ bị phơi nhiễm đặc biệt là trong các tháng hè thu.
Cũng giống như người lớn khác, nguy cơ nhiễm cao ở những phụ nữ mang thai nào không có kháng thể có được từ những lần phơi nhiễm trước, và những phụ nữ mang thai có tiếp xúc với trẻ nhỏ là người truyền enterovirus đầu tiên.
Hầu hết phụ nữ nhiễm enterovirus trong thai kỳ thường không phát bệnh hoặc biểu hiện bệnh nhẹ.
Mặc dù thông tin có được hiện nay chưa nhiều và chưa có bằng chứng rõ ràng là nhiễm virut khi mang thai sẽ gây hậu quả như xảy thai, chết sơ sinh hoặc dị tật bẩm sinh.
Tuy nhiên bà mẹ nhiễm có thể truyền virus cho đứa bé ngay trước khi sinh. Đứa trẻ sinh ra từ người mẹ đã có biểu hiện triệu chứng nhiễm enterovirut, trong khi sinh có khả năng rất dễ bị nhiễm bệnh. Hầu hết những trẻ sơ sinh nhiễm enterovirut này có biểu hiện bệnh nhẹ và hiếm khi phát triển thành nhiễm đa phủ tạng: gan, tim và tử vong vì nhiễm vi rut.
Nguy cơ cao xảy ra bệnh cảnh nặng cho trẻ sơ sinh vào 2 tuần lễ đầu đời.
Thực hiện vệ sinh sạch sẽ cho người phụ nữ có thai sẽ có thể giúp giảm nguy cơ nhiễm khi đang mang thai và nhiễm trong khi sinh.
Bệnh TCM thường xảy ra ở đâu?
Các ca bệnh đơn lẻ và dịch TCM xảy ra trên khắp nơi trên thế giới với tần suất bệnh cao trong mùa hè và đầu mùa thu.
Thời gian gần đây các vụ dịch TCM chủ yếu do enterovirus 71 gây ra đã được báo cáo xảy ra tại các quốc gia thuộc Đông Nam Á (Malaysia, 1997; Đài loan 1998).
Điều trị như thế nào?
 
Chưa có điều trị đặc hiệu cho virut này và các loại enterovirus khác. Điều trị triệu chứng để giảm sốt, đau nhức do các vết loét gây ra, kết hợp với tăng sức đề kháng.
Để giảm nguy cơ nhiễm trùng da niêm cần phải vệ sinh thân thể: cho trẻ súc miệng mỗi ngày, chăm sóc da bằng cách tắm nước ấm, lau rửa nhẹ nhàng, tránh làm vỡ bóng nước hay trầy xước da, thay quần áo sạch hàng ngày. Cắt ngắn móng tay để giảm tổn thương da do gãi ngứa.
Cho ăn uống đầy đủ dưỡng chất và nhu cầu, cho trẻ uống nhiều nước như nước sôi để nguội, nước trái cây, nước canh, nước cháo…
Lưu ý, trẻ bị TCM không cần kiêng cữ gió và ánh sáng, không chọc vỡ bóng nước, không đắp lá cây vì sẽ gây nhiễm trùng da. Theo dõi diễn biến các tổn thương da niêm và tình trạng chung của trẻ. Cần đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế khi có những dấu hiệu bệnh nặng hơn như sốt cao, rối loạn tri giác, co giật, bóng nước có mủ, máu.
Có thể phòng bệnh được không?
Chưa có các biện pháp phòng bệnh đặc hiệu cho nhiễm TCM và các loại Non-polio enterovirus, nhưng có thể làm giảm nguy cơ nhiễm bằng thực hành vệ sinh tốt.
Các biện pháp phòng bệnh là rửa tay thường xuyên, đặc biệt là sau khi thay tã, làm sạch bề mặt và các dụng cụ đã bị vấy nhiễm trước tiên bằng nước và xà phòng ,rồi sau đó là khử trùng bằng dung dịch chứa clo như chloramine.
Những người chăm sóc trẻ có thể giảm nguy cơ bị lây nhiễm khi chăm sóc trẻ bệnh TCM nếu tránh tiếp xúc gần gũi với trẻ bị bệnh TCMA (hôn, ôm, dùng chung thức ăn, chén bát…)
Phòng bệnh TCM cho trẻ ở nhà trẻ như thế nào?
Dịch TCM xảy ra ở các nhà trẻ thường vào các tháng hè thu, và luôn cùng lúc với sự gia tăng sốca bệnh tại cộng đồng.
CDC không có khuyến cáo đặc biệt nào về việc cách ly cho nghỉ học các trẻ bệnh TCM trong các chương trình chăm sóc trẻ em, trường học hoặc các nhóm trẻ.
Nếu cách ly trẻ bệnh TCM với nhóm trẻ trong những ngày đầu của bệnh thì có thể làm giảm sự lây nhiễm, tuy nhiên không ngăn chặn hoàn toàn được dịch. Có thể có làm giảm phơi nhiễm cho trẻ em khác nếu cách ly những trẻ có mụn dộp trong miệng, chảy nước mũi, lòng bàn chân, bàn tay có mụn dộp vỡ.
Cách ly người bệnh có thể không ngăn được sự xuất hiện thêm các ca bệnh vì virus có thể đã bài tiết ra từ vài tuần trước khi xuất hiện triệu chứng. Một số người (mà đa số là người lớn) bài tiết virus nhưng không có biểu hiện triệu chứng của bệnh.
Nếu dịch xảy ra tại nhà trẻ:
- Bảo đảm tất cả các trẻ em người lớn phải rửa tay sạch và thường xuyên, nhất là sau khi thay tã cho trẻ. Hình ảnh bóng nước nổi trên vùng đầu gối của trẻ bị bệnh tay chân miệng
- Rửa thật kỹ, rồi khử trùng các dụng cụ và bề mặt với dung dịch chloramines, thuốc tẩy.
Vietnamnet (Theo tài liệu của CDC/Viện Pasteur TP.HCM và tư liệu của BS CKII. Nguyễn Thị Kim Thoa - Trưởng khoa Nội tổng quát 1, BV Nhi đồng 1) 
Design by Hao Tran | Blogger Theme by Sức khỏe sinh sản -